BẾ TINH, DƯỠNG KHÍ, TỒN THẦN

THANH TÂM, QUẢ DỤC

THỦ CHÂN, LUYỆN HÌNH

Showing posts with label Cancer. Show all posts
Showing posts with label Cancer. Show all posts

Baking Soda - Sodium bicarbonate: Điều trị ung thư cho người giàu người nghèo - Phần 7

Hiệu năng chữa lành mạnh mẽ của Baking Soda.

Dr. Tullio Simoncini và Mark Sicus, Ac, OMD cả hai bác sĩ này đều ủng hộ việc dùng baking soda cho ngay cả bệnh nghiêm trọng nhất – ung thư!

Dr. Simoncini, là bác sĩ chuyên khoa ung thư, đã bị trục xuất khỏi đoàn y khoa khi ông từ chối dùng các phương pháp y khoa hiện đại cho việc trị liệu ung thư và thay vào đó dùng sodium bicarbonate.

Dr. Sircus viết trong sách của ông: “Winning the War on Cancer”  (Sự chiến thắng trong cuộc chiến chống ung thư) rằng: “Sodium bicarbonate là phương pháp hiệu quả trong việc “tăng tốc” trả lại mức độ pH bình thường của cơ thể. Bicarbonate là chất vô cơ (inorganic), rất kiềm và cũng như các loại khoáng chất khác, hỗ trợ cho nhiều chức năng sinh học. Sodium bicarbonate sẽ là một trong những loại sản phẩm hữu ích nhất cho chúng ta bởi vì về phương diện sinh lý thì bicarbonate là nền tảng cho cuộc sống và sức khỏe".

Có rất nhiều trị liệu hóa trị đã phải có sử dụng sodium bicarbonate để giúp bảo vệ thận, tim và hệ thần kinh của bệnh nhân, bởi vì sử dụng hóa trị mà không dùng bicarbonate thì có thể dẫn đến nguy tử vong cho bệnh nhân.

Có thể nào chăng trong khi kết hợp hóa trị với baking soda, thì bất kỳ cải tiến nào cũng được xem là kết qủa của baking soda, chứ không phải của độc chất hóa học? Dr. Sircus tin tưởng rằng trường hợp này có khả năng là như vậy.

Tiến sĩ nói: “Chưa có nghiên cứu nào cho việc tách riêng ảnh hưởng của bicarbonate ra  khỏihóa trị liệu, và cũng sẽ chẳng bao giờ có!!!”

"Chúng tôi vừa cho ra mắt phiên bản thứ hai của Sodium Bicarbonate E-book. Ấn bản thứ hai mở rộng các lĩnh vực của một số bệnh khác như: bệnh thận, tiểu đường, điều trị bệnh cúm và cảm lạnh thông thường, và các khu vực khác của y học nói chung". 

Sodium bicarbonate (Baking Soda) là một trong những chất hữu ích nhất trong thế giới của y học. Quyển sách này này là một cổng thông tin vào thế giới của bicarbonate và làm thế nào để có thể được sử dụng và tăng cường sức khỏe và giúp chữa bệnh ung thư, bệnh thận và một loạt các bệnh cấp tính và mãn tính. Sodium bicarbonate đã được sử dụng trong nhiều thập kỷ như một thuốc hỗ trợ trong hóa trị liệu và được sử dụng phổ biến trong các phòng cấp cứu, phòng chăm sóc đặc biệt trên thế giới.

Trong hơn một thập kỷ đã có công trình diễn ra tại Đại học Arizona là sử dụng bicarbonate như một khả năng điều trị ung thư.

Sodium bicarbonate là một sản phẩm tuyệt đẳng chống nấm nhưng việc sử dụng nó là không giới hạn hiệu lực. Sodium bicarbonate cũng làm chậm đáng kể tiến triển của bệnh thận mãn tính. 

Baking Soda - người bạn tốt nhất của mỗi bệnh nhân ung thư!

Có vẻ như các chuyên gia ung thư chính thống không tìm hiểu  kỹ về sodium bicarbonate (baking soda) - như là một chất rẻ tiền nhưng mang lại kết quả tuyệt vời trong điều trị ung thư, mặc dù các chuyên khoa ung thư vẫn hiểu và biết rằng sử dụng bicarbonate là cần thiết để bảo vệ bệnh nhân của họ giảm bớt độ độc và các tổn hại do hóa chất được sử dụng trong hóa trị liệu, họ cũng biết đó là sự giúp đỡ đặc biệt cho các bệnh nhân được điều trị bức xạ bảo vệ thận và các mô khác của cơ thể từ những tổn hại mà phóng xạ gây ra.

Chuyên gia ung thư cũng nên biết rằng một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng độ pH tế bào trong bệnh ung thư thường thấp hơn so với mô bình thường và axit thúc đẩy tăng trưởng khối u xâm lấn trong ung thư chính và di căn. Các nhà nghiên cứu đã điều tra các giả định rất hợp lý rằng hệ thống làm tăng nồng độ của bộ đệm pH sẽ dẫn đến giảm intratumoral và toan peritumoral và, kết quả là, ức chế sự tăng trưởng ác tính. Nó đã được chỉ ra rằng nồng độ huyết thanh tăng pH có thể đạt được chỉ thông qua ăn uống và các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng hậu quả của việc giảm nồng độ axit làm giảm đáng kể khối u phát triển.

SỬ DỤNG KẾT HỢP BAKING SODA + MAPLE SYRUP CHỐNG LẠI UNG THƯ

Theo Marks Sircus Ac, OMD - Giám đốc Hiệp hội Veritas y tế quốc tế:

Tế bào ung thư có tính axit cả trong và ngoài - Baking Soda trộn với Maple Syrup đã có kết quả tích cực loại bỏ các tế bào ung thư hoặc kiềm chế tốc độ tăng trưởng của chúng.

Mặc dù bicarbonate có thể có hoặc có thể không gây chết tế bào ung thư, nhưng chắc chắn là một trở ngại cho sự phát triển ung thư và sẽ giúp bệnh nhân "mua thêm thời gian" cho phương pháp điều trị khác để tăng tính hiệu quả lên hơn.

Mô ung thư là có tính axit nhiều hơn đáng kể hơn so với các mô bình thường - mô có tính axit và có ít oxy. Khi sử dụng bicarbonate sẽ giúp làm tăng độ kiềm, và giúp cung cấp oxy cho các tế bào ung thư và trung hòa axit do đó khiến cho tế bào ung thư phát triển chậm lại hoặc ngừng phát triển và bị tiêu diệt.

Cách sử dụng kết hợp Baking Soda với Maple Syrup trong việc điều trị ung thư:

Kết hợp 1 muỗng cà phê Baking Soda với 3 muỗng cà phê 100% xi-rô cây phong (1 loại nhựa cây gỗ lớn ở Phương Tây, không phải là mật mía hay nước đường) khuấy đều trong cốc inox hoặc thủy tinh (Không được sử dụng nồi nhôm) trong khoảng 5 - 10 phút rồi uống. Có thể uống 1- 2 lần/ngày và không uống quá 3 lần/ngày, mỗi liều cách nhau ít nhất 2 tiếng. 

-  Không nên pha trước rồi cho vào tủ lạnh vì như thế sẽ làm giảm tác dụng của hỗn hợp.

- Không nên dùng hỗn hợp quá gần giờ ăn - uống trước khi ăn 30 phút.

- Kiểm tra độ pH của nước bọt hoặc nước tiểu thường xuyên để đảm bảo bạn không bị quá alkalizing cơ thể của bạn.

Đầu tiên đo pH nước bọt hoặc nước tiểu ban đầu - thử nghiệm bằng cách sử dụng giấy pH vào buổi sáng sau khi thức dậy trong 3 ngày.  
Độ pH 6.8-7.0 là bình thường 
Nếu pH <7.5 bạn có thể làm hỗn hợp BS / MS.
Kiểm tra độ pH ít nhất một lần / tuần - và chỉ tiếp tục sử dụng lại hỗn hợp cho đến khi pH < 7.5 và sau đó dừng lại vì môi trường quá kiềm (>8.5) không có lợi cho sức khỏe.

Trong thời gian điều trị, thay đổi chế độ ăn uống - Ví dụ như không ăn thịt đỏ, không uống sữa, không đường hoặc bột mì trắng. Bạn muốn các tế bào ung thư chỉ tiêu thụ xi-rô cây phong + baking soda của bạn sẽ làm cho nó bị tiêu diệt.

Vì tế bào ung thư "yêu" đường nó hất thụ lượng đường gấp 20 lần so với tế bào lành tính để nuôi dưỡng nó lớn mạnh - và vì vậy khi pha trộn bicarbonate soda (BS) với xi-rô cây phong thì tế bào ung thư đang bị "đói" gặp maple syrup là đường sẽ hấp thụ ngay và do đó nó đã tự cũng mang baking soda vào trong tế bào ung thư và tự bị tiêu diệt.

Các tác động của baking soda khi kết hợp với xi rô cây phong đối với tế bào ung thư:

(I) giết chết các vi khuẩn ung thư (hoặc đẩy nó trở lại trạng hình thức ngủ đông) bên trong các tế bào ung thư, như vậy mà các tế bào trở lại trạng bình thường (Nếu bạn chấp nhận  lý thuyết vi khuẩn của bệnh ung thư ) hoặc

(Ii) Có một hiệu ứng alkalizing buộc thay đổi pH nhanh chóng có thể tiêu diệt các tế bào - Các sóng xung kích kiềm cho phép thêm nhiều oxy vào các tế bào ung thư hơn những gì họ mà chúng thể chịu đựng được.

Các xi-rô cây phong cho phép và làm tăng sự thâm nhập của bicarbonate vào hầu hết các khoang của cơ thể - bao gồm cả hệ thống thần kinh trung ương (CNS), (thông qua hàng rào máu não), khớp, khối u rắn, và có lẽ thậm chí cả mắt,   khu vực mà nếu không khó khăn để thâm nhập (đường / glucose là một yêu cầu phổ quát của tất cả các tế bào cơ thể), tương tự như điều trị insulin tiềm lực (IPT), xi-rô cây phong sẽ làm cho màng tế bào và các mô thẩm thấu tốt hơn.

Lợi ích của việc sử dụng nước cốt chanh tươi kết hợp với Baking Soda trong điều trị ung thư:

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nước ép chanh và baking soda có thể là một sự kết hợp kỳ diệu vì nó có khả năng giết các tế bào ung thư. Một trong những nhà sản xuất lớn nhất của các loại thuốc, nói rằng sau 20 xét nghiệm được tiến hành từ năm 1970, họ đã chứng minh rằng: Chanh tươi phá hủy các tế bào gây 12 loại ung thư. Chanh tươi  ngăn chặn sự lây lan của các tế bào gây ung thư và có tác dụng mạnh hơn 10.000 lần so với các loại thuốc như adriamycin, hóa trị liệu và các sản phẩm có chất gây mê.

Các nghiên cứu gần đây cũng đã chỉ ra rằng các loại trái cây nói chung, đặc biệt là chanh đã ngăn chặn và trong một số trường hợp chữa khỏi bệnh ung thư bằng cách thêm baking soda bạn sẽ bình thường hóa nồng độ pH của cơ thể mà không cho phép các tế bào ung thư tiếp tục lây lan. Trong khi Hóa trị có tác dụng phụ kinh khủng là nó phá hủy các tế bào khỏe mạnh của cơ thể thì nước chanh và baking soda lại chỉ giết chết các tế bào ung thư. 

Baking soda trung hòa axit (citric) đến pH~8 mà vẫn giữ đc tác dụng có lợi của chanh tươi.

Bệnh nhân nên uống hai muỗng cà phê nước cốt chanh với một nửa muỗng cà phê baking soda trước bữa ăn sáng khi dạ dày đang trống rỗng cho hiệu quả tốt hơn. Bạn cần sử dụng chanh hữu cơ có tác dụng tốt hơn vì nó hiệu quả hơn một trái chanh trồng với phân bón hóa học và phun hóa chất gấp đến cả 100 lần. 


Thông tin khác liên quan tới việc sử dụng Baking Soda trong việc điều trị ung thư:

Tiến sĩ bác sĩ chuyên khoa người Ý Tullio Simoncini tuyên bố đã thành công điều trị khối u ung thư bằng cách sử dụng dung dịch sodium bicarbonate bằng cách tiêm vào một khối u hoặc động mạch chọn lọc.  Theo Tiến sĩ Simoncini, điều trị ung thư phải là một liều liên tục mạnh mẽ với chu kỳ không bị gián đoạn trong công việc phá hủy mà nên kéo dài ít nhất 7 - 8 ngày - " Nói chung một khối u có kích thước hoảng 2-3-4 cm sẽ bắt đầu giảm kích thước từ ngày thứ ba đến ngày thứ tư, và tan rã từ thứ tư đến thứ năm".

Tuy nhiên, Tiến sĩ Simoncini chỉ ra rằng, "Sodium bicarbonate dùng đường uống, thông qua bình phun hoặc tiêm tĩnh mạch có thể đạt được kết quả tích cực chỉ trong một số khối u, trong khi những người khác - chẳng hạn như những khối u ở não hoặc xương thì ít có tác động bởi các điều trị". 

Trang web của ông nói rằng điều trị tại nhà Tự làm là có thể, nếu như ung thư được giới hạn trong các cơ quan nhất định (không thâm nhập vào các mô hạn chế). 

Tiến sĩ Simoncini tin rằng "hành động chống nấm" nhờ vào tác dụng kiềm của bicarbonate gây chết tế bào ung thư - "Lý thuyết cơ bản đằng sau điều trị này nằm trong thực tế rằng, mặc dù một số yếu tố khác nhau, sự hình thành và lan truyền khối u chỉ đơn giản là kết quả của sự hiện diện của một loại nấm, "nhiễm nấm khối u rắn là mạnh mẽ, nhưng tiến sĩ Simoncini nói rằng sodium bicarbonate hoạt động rất nhanh chóng chống lại tế bào ung thư, mà làm chó chúng không kịp có thời gian để kháng thuốc.
Các thông tin tóm tắt trên đây, được góp nhặt từ các nguồn sau:

- "Tăng cường hóa trị liệu bằng pH" -  Raghunand N, Ông X, van Sluis R, Mahoney B, Baggett B, Taylor CW, Paine-Murrieta G, Roe D, Bhujwalla ZM, Gillies RJ. Trung tâm Ung thư Arizona.

- "Dùng bicarbonate qua đường uống làm tăng pH và ức chế khối u tự phát ở chuột bị ung thư vú" - Robey IF, Baggett BK, Kirkpatrick ND, Roe DJ, Dosescu J, Sloane BF, Hashim AI, Morse DL, Raghunand N, Gatenby RA, Gillies RJ. Bicarbonate increases tumor pH and inhibits spontaneous metastases. Cancer Res. 2009 Mar 15;69(6):2260-8. Epub 2009 Mar 10. 

Kết luận: Nếu bạn chịu mở rộng tầm nhìn, bạn sẽ nhanh chóng học biết rằng có nhiều phương cách hỗ trợ cơ thể bạn tự chữa lành mà không cần đến những thuốc gây biến chứng, hay phẫu thuật, ngay cả khi tiến đến tình trạng nghiêm trọng là ung thư.

(Còn tiếp)
Y học cổ truyền Việt Nam

Một số thông tin nói về Ung thư của bệnh viện Johns Hopkins

Tôi có một người bạn, anh ta mắc chứng bệnh ung thư cuống phổi, cục bứu ác tính to bằng cái chén nằm ở cuống phổi. Bác sĩ nói về nhà ăn uống chờ chết, không thể cắt bỏ vì nó nằm sát với động mạch chủ. Tôi đến chơi hỏi thăm, anh ta cho tôi xem hình chụp X-Ray của cục bứu. 
Anh ta đã chữa trị bệnh ung thư bằng phương pháp dưới đây: Không ăn đường, không ăn thịt, cá, cơm, chỉ uống nước xay bằng rau, củ như củ cà rốt, của cải, củ dền, cam, táo …
 Sau ba tháng uống liên tục cục bứu to bằng cái chén thu nhỏ lại chỉ còn bằng cái khu chén, sau chín tháng bứu ung thư biến mất. Bây giờ anh ta khoẻ mạnh làm việc và ăn uống bình thường. Bốn người cùng chứng bệnh ung thư như anh ta chữa bằng phương pháp chemical therapy đã chết hết rồi.

B4INREMOTE-aHR0cDovLzQuYnAuYmxvZ3Nwb3QuY29tLy1YVmR3emN2Y053ay9VN2ZsT2V2M2t4SS9BQUFBQUFBQU9idy9FRlVBNFduRmFMYy9zMTYwMC9iZW5oLXZpZW4uanBnNhững chi tiết của bài viết dưới đây rất đúng, tế bào ung thư khi đã không được nuôi dưỡng bằng thịt bò, đường.. thì nó sẽ chết. Nên phổ biến tài liệu này cho mọi người cùng biết.
 
Một tài liệu nói về bệnh Ung thư của Bệnh viện Johns Hopkins, trường đại học Baltimore, Maryland ở Hoa Kỳ. Bài viết rất ngắn, có nhiều điểm rất thú vị, quí vị đọc thử coi thấy sao? 

Một trong những bệnh viện nổi tiếng nhất trên thế giới thay đổi quan điểm của mình về bệnh ung thư. Bệnh viện Johns Hopkins là một bệnh viện trường đại học nằm ở Baltimore, Maryland ở Hoa Kỳ.
 
Được thành lập nhờ tài trợ từ John Hopkins, ngày hôm nay nó là một trong những bệnh viện nổi tiếng nhất trên thế giới và năm thứ 17 liên tiếp được phân loại ở vị trí đầu tiên trong bảng xếp hạng của các bệnh viện tốt nhất tại Hoa Kỳ.

B4INREMOTE-aHR0cDovLzIuYnAuYmxvZ3Nwb3QuY29tLy1zUnk0UUpSNkdBcy9VenQyN1hBcWRiSS9BQUFBQUFBQU1nOC9RVmtGTmxpUHZkNC9zMTYwMC8lQzQlOTElRTElQkIlOTl0K2JpJUUxJUJBJUJGbit0JUUxJUJBJUJGK2IlQzMlQTBvK3VuZyt0aCVDNiVCMC5qcGc=
Ung thư: bản cập nhật từ John Hopkisn
Đột biến của tế bào bình thường thành tế bào ác tính
.
Sau nhiều năm nói với mọi người hóa trị liệu là cách duy nhất để điều trị và loại bỏ ung thư, Bệnh viện Johns Hopkins đã bắt đầu nói với mọi người rằng có những lựa chọn thay thế khác với hóa trị liệu: một cách hiệu quả để chống lại ung thư là không nuôi các tế bào ung thư với các chất dinh dưỡng cần thiết cho nó để nó không phát triển được.

Phần bên dưới được "chép" lại bằng tiếng Anh (nguyên bản) trước và lược dịch sang tiếng Việt.

1. Every person has cancer cells in the body. These cancer cells do not show up in the standard tests until they have multiplied to a few billion. When doctors tell cancer patients that there are no more cancer cells in their bodies after treatment, it just means the tests are unable to detect the cancer cells because they have not reached the detectable size.

1. Mỗi người đều có tế bào ung thư trong cơ thể. Các tế bào ung thư này không hiển thị trong các thử nghiệm tiêu chuẩn cho đến khi chúng nhân bội ra thành vài tỷ. Khi bác sĩ nói với bệnh nhân ung thư là không còn tế bào ung thư trong cơ thể của họ sau khi điều trị, điều này chỉ có nghĩa là các thử nghiệm không phát hiện ra các tế bào ung thư bởi vì chúng không đạt được kích cỡ đủ lớn để phát hiện được.
2. Cancer cells occur between 6 to more than 10 times in a person’s lifetime.
2. Các tế bào ung thư xuất hiện từ 6 đến hơn 10 lần trong suốt cuộc đời của một người.
3. When the person’s immune system is strong the cancer cells will be destroyed and prevented from multiplying and forming tumors.
3. Khi hệ thống miễn dịch của một người mạnh thì các tế bào ung thư sẽ bị hủy diệt và bị ngăn cản không cho nhân bội và hình thành khối u.. 
 

B4INREMOTE-aHR0cDovLzQuYnAuYmxvZ3Nwb3QuY29tLy1PSGt5VjJibjNEUS9VenQyOHFsdHZ5SS9BQUFBQUFBQU1oRS8wUWJmYnAxOFFYcy9zMTYwMC90JUUxJUJBJUJGK2IlQzMlQTBvK3VuZyt0aCVDNiVCMC5qcGc=4. When a person has cancer it indicates the person has multiple nutritional deficiencies. These could be due to genetic, environmental, food and lifestyle factors.
4. Khi một người mắc bệnh ung thư có nghĩa là người đó bị suy dinh dưỡng đa bội . Đây có thể là do di truyền, môi trường, thực phẩm, môi trường và các yếu tố lối sống. 
5. To overcome the multiple nutritional deficiencies, changing diet and including supplements will strengthen the immune system.
5. Để khắc phục tình trạng suy dinh dưỡng đa bội , thay đổi chế độ ăn uống kể cả dùng thêm thuốc bổ sung sẽ tăng cường hệ thống miễn dịch. 
6. Chemotherapy involves poisoning the rapidly-growing cancer cells and also destroys rapidly-growing healthy cells in the bone marrow, gastro-intestinal tract etc., and can cause organ damage, like liver, kidneys, heart, lungs etc.
6. Hóa học trị liệu “đầu độc” các tế bào ung thư tăng trưởng nhanh nhưng cũng tiêu hủy luôn cả các tế bào khỏe mạnh tăng trưởng nhanh trong tủy xương, hệ dạ dày-ruột vv.., và có thể gây tổn thương cho các bộ phận như gan, thận, tim, phổi, vv…
7. Radiation while destroying cancer cells also burns, scars and damages healthy cells, tissues and organs.
7. Trong quá trình tiêu diệt tế bào ung thư , các tia bức xạ cũng có thể đốt cháy, gây sẹo , làm tổn thương các tế bào lành mạnh, các mô tế bào và các bộ phận trong cơ thể. 
8. Initial treatment with chemotherapy and radiation will often reduce tumor size. However prolonged use of chemotherapy and radiation do not result in more tumor destruction.
8. Lúc khởi thủy, hóa trị liệu và bức xạ thường làm giảm kích thước khối u. Tuy nhiên sử dụng lâu dài , hóa trị liệu và bức xạ sẽ không phá hủy khối u được hơn nữa 
9. When the body has too much toxic burden from chemotherapy and radiation the immune system is either compromised or destroyed, hence the person can succumb to various kinds of infections and complications.
9. Khi cơ thể có quá nhiều độc hại từ hóa trị liệu và bức xạ thì hệ thống miễn dịch bị tổn thương hoặc tiêu hủy, vì vậy cơ thể sẽ không thể chống đỡ nổi các loại bệnh nhiễm khuẩn và biến chứng. 
10. Chemotherapy and radiation can cause cancer cells to mutate and become resistant and difficult to destroy. Surgery can also cause cancer cells to spread to other sites.
10. Hóa trị liệu và bức xạ có thể làm các tế bào ung thư đột biến và trở nên đề kháng và khó tiêu diệt. Phẫu thuật cũng có thể làm cho các tế bào ung thư di căn đến các nơi khác trong cơ thể. 
11. An effective way to battle cancer is to starve the cancer cells by not feeding it with the foods it needs to multiply.
11. Một cách hiệu quả để chống lại ung thư là bỏ đói các tế bào ung thư bằng cách không cung cấp cho chúng những “thức ăn” chúng cần để có thể sinh sôi nảy nở.
—————————————————
WHAT CANCER CELLS FEED ON:
Các tế bào ung thư sống bằng gì?

a. Sugar is a cancer-feeder – By cutting off sugar it cuts off one important food supply to the cancer cells. Sugar substitutes like NutraSweet, Equal, Spoonful, etc are made with Aspartame and it is harmful. A better natural substitute would be Manuka honey or molasses but only in very small amounts. Table salt has a chemical added to make it white in colour. Better alternative is Bragg’s aminos or sea salt.
a. Đường là chất nuôi dưỡng ung thư – Cắt bỏ đường là cắt đứt một nguồn cung cấp lương thực quan trọng cho các tế bào ung thư. Các chất thay thế đường như NutraSweet, Equal, Spoonful, vv được làm bằng aspartame và đều độc hại. Chất thiên nhiên thay thế đường tốt nhất là mật ong Manuka và mật miá nhưng chỉ với số lượng rất nhỏ.

Muối ăn cũng có chất hóa học để làm cho nó có màu trắng. Chất thay thế tốt là amino Bragg và muối biển.

b. Milk causes the body to produce mucus, especially in the gastro-intestinal tract. Cancer feeds on mucus. By cutting off milk and substituting with unsweetened soy milk, cancer cells are being starved.
b. Sữa khiến cơ thể tiết ra niêm dịch, đặc biệt là ở vùng dạ dày và ruột. Tế bào ung thư sống nhờ vào niêm dịch này. Nếu loại bỏ sữa và thay thế bằng sữa đậu nành không đường thì các tế bào ung thư sẽ chết đói
c. Cancer cells thrive in an acid environment. A meat-based diet is acidic and it is best to eat fish, and a little chicken rather than beef or pork. Meat also contains livestock antibiotics, growth hormones and parasites, which are all harmful, especially to people with cancer.
c. Các tế bào ung thư phát triển mạnh trong môi trường acid. Một chế độ ăn uống dựa trên thịt có tính acid,vì vậy tốt nhất là nên ăn cá và chút ít thịt gà hơn là ăn thịt bò hoặc thịt heo. Thịt cũng chứa kháng sinh dành cho gia súc, hormon tăng trưởng và ký sinh trùng; tất cả đều có hại, đặc biệt là đối với những người bị ung thư. 
d. A diet made of 80% fresh vegetables and juice, whole grains, seeds, nuts and a little fruits help put the body into an alkaline environment. About 20% can be from cooked food including beans. Fresh vegetable juices provide live enzymes that are easily absorbed and reach down to cellular levels within 15 minutes to nourish and enhance growth of healthy cells.

To obtain live enzymes for building healthy cells try and drink fresh vegetable juice (most vegetables including bean sprouts) and eat some raw vegetables 2 or 3 times a day. Enzymes are destroyed at temperatures of 104 degrees F (40 degrees C).

d. Một chế độ ăn uống gồm 80% rau tươi và nước trái cây, ngũ cốc nguyên hạt, hạt giống , các loại hạt và một ít trái cây sẽ đưa cơ thể vào một môi trường kiềm. Khoảng 20% ​​có thể là thức ăn nấu chín, bao gồm đậu.

Nước rau tươi cung cấp những enzyme sống, được dễ dàng hấp thụ và chuyển tới các tế bào trong vòng 15 phút để nuôi dưỡng và thúc đẩy các tế bào lành mạnh tăng trưởng. Muốn có các enzyme sống để tạo dựng các tế bào lành mạnh, bạn hãy thử uống nước ép rau tươi ( hầu hết đủ loại rau kể cà giá đỗ) và ăn rau sống 2 hoặc 3 lần một ngày.Các enzyme bị hủy diệt ở nhiệt độ 104 độ F (40 độ C). 

e. Avoid coffee, tea, and chocolate, which have high caffeine. Green tea is a better alternative and has cancer-fighting properties. Water–best to drink purified water, or filtered, to avoid known toxins and heavy metals in tap water. Distilled water is acidic, avoid it
.
e. Tránh cà phê, trà và sô cô la vì chứa nhiều caffeine. Trà xanh là một lựa chọn tốt hơn và có đặc tính chống ung thư. Về nước – tốt nhất là uống nước tinh khiết, hay nước lọc, để tránh các độc tố và các kim loại nặng có trong nước máy. Nước cất có tính acid, vì vậy đừng nên uống

———————————————————–
B4INREMOTE-aHR0cDovLzEuYnAuYmxvZ3Nwb3QuY29tLy1MR1JjRk8wZU84Yy9VenQyN2RQd21LSS9BQUFBQUFBQU1oQS9VNWhYUjZMWXNNVS9zMTYwMC90aCUyNUUxJTI1QkIlMjVBOWMrJTI1QzQlMjU4M24rdCUyNUUxJTI1QkElMjVCRitiJTI1QzMlMjVBMG8rdW5nK3RoJTI1QzYlMjVCMC5qcGc=12. Meat protein is difficult to digest and requires a lot of digestive enzymes. Undigested meat remaining in the intestines become putrified and leads to more toxic buildup.
12. Protein trong thịt khó tiêu hóa và đòi hỏi rất nhiều enzyme tiêu hóa. Thịt không tiêu hóa nằm nguyên trong ruột sẽ thối rữa và dẫn đến sự tích tụ nhiều chất độc hơn. 
 
13. Cancer cell walls have a tough protein covering. By refraining from or eating less meat it frees more enzymes to attack the protein walls of cancer cells and allows the body’s killer cells to destroy the cancer cells.

13. Thành các tế bào ung thư có lớp bọc protein cứng. Nếu bạn kiềm chế hoặc ăn ít thịt đi, cơ thể sẽ giải tỏa được nhiều enzim hơn để tấn công lớp bọc protein của các tế bào ung thư và giúp các tế bào “sát thủ” của cơ thể tiêu diệt các tế bào ung thư này. 
14. Some supplements build up the immune system (IP6, Flor-ssence, Essiac, anti-oxidants, vitamins, minerals, EFAs etc.) to enable the body’s own killer cells to destroy cancer cells. Other supplements like vitamin E are known to cause apoptosis, or programmed cell death, the body’s normal method of disposing of damaged, unwanted, or unneeded cells.
14. Một số thuốc bổ sung xây dựng hệ thống miễn dịch (ip6, Flor-ssence, Essiac, các chất chống oxy hóa, các vitamin, các khoáng chất, các EFA…) để giúp các tế bào sát thủ của cơ thể tiêu diệt các tế bào ung thư. Các thuốc bổ sung khác như vitamin E được biết là gây ra sư chết chương trình hóa của tế bào [apoptosis] Đây là phương cách bình thường của cơ thể để loại bỏ các tế bào hư hại, không mong muốn, hay không cần thiết.
15. Cancer is a disease of the mind, body, and spirit. A proactive and positive spirit will help the cancer warrior be a survivor.

Anger, unforgiveness and bitterness put the body into a stressful and acidic environment. Learn to have a loving and forgiving spirit. Learn to relax and enjoy life

15. Ung thư là một căn bệnh về tâm trí , thê xác và tinh thần,. Một tinh thần chủ động và tích cực sẽ giúp bệnh nhân ung thư tranh thủ để sống sót. 

Giận dữ, chấp nhất và cay đắng khiến cơ thể bị căng thẳng và rơi vào môi trường acit. Cần rèn luyện một tinh thần yêu thương và khoan dung. Cẩn tập thư dãn và yêu đời.

16. Cancer cells cannot thrive in an oxygenated environment. Exercising daily, and deep breathing help to get more oxygen down to the cellular level. Oxygen therapy is another means employed to destroy cancer cells.
16. Các tế bào ung thư không thể phát triển mạnh trong một môi trường oxy hóa. Tập thể dục hàng ngày, và hít thở sâu giúp đưa nhiều oxy hơn xuống đến cấp độ tế bào. Oxy liệu pháp là một phương cách khác để tiêu diệt các tế bào ung thư. 
(Sưu tầm)

Tranh cãi xuyên thế kỷ về hạt mơ và vitamin B17 trong việc phòng chống Ung thư

Chuyện dài xuyên thế kỷ về hạt mơ và Vitamin B17 phòng chống ung thư


Quả mơ, nước mơ, dầu mơ là những loại thức ăn truyền thống của nhiều dân tộc. Tuy nhiên, việc sử dụng hoạt chất amygdalin từ hạt mơ trong điều trị ung thư còn có nhiều ý kiến khác nhau.  Trong lịch sử phát hiện, chế biến và sử dụng thuốc chữa bệnh, có lẽ chưa có loại thuốc nào gặp phải nhiều thách thức và cản ngại trên đường đến với người bệnh như Vitamin B17, hoạt chất amygdalin từ các loại hạt.

 Laetrile là gì?

Vào năm 1803 Pierre-Jean Robiquet  và  A. F. Boutron-Charlard đã trích xuất được hợp chất Amygdalin có công thứcC20H27NO11 từ hạt hạnh nhân đắng.  Sau đó người ta cũng tìm thấy hợp chất nầy từ hàng ngàn loại hạt khác, nhiều nhất ở hạt đào, hạt mơ. Amygdalin cũng có tên là Laetrile,    Nitriloside hay Vitamin B17.  Tên gọi Vitamin B17 (B17) dành cho Laetrile có nguồn gốc  từ  Tiến sĩ Ernst Krebs Jr.  với quan điểm nó là một  loại thực phẩm dinh dưỡng.  Laetrile là một hợp chất hoá học, khi vào cơ thể, dưới sự xúc tác của các enzym có sẵn trong hạt và những enzym khác trong ống tiêu hoá sẽ phóng thích ra benzaldehyde, hydrocyanide acid (HCN) và 2 phân tử đường.  HCN là một hợp chất chống phát triển khối u và giảm đau được dùng ở một số nơi để phòng chống ung thư.  Laetrile đã được dùng để chữa ung thư ở Nga, ở Mỹ từ năm 1920.  Laetrile được sản xuất công nghiệp lần đầu tiên từ hạt mơ có 2 tên thương mại là Aprikerrn và Bee Seventeen.  Aprikern có nghĩa là hạt mơ, chữ ghép lại của  2 từ Apricot (quả mơ) và Kernel (phần nhân, phần hạt).  Người ta cũng phân biệt Laetrile được sản xuất, cấp phép sử dụng ở một số nơi ở Mỹ là Laetrile nhân tạo được làm bằng cách tổng hợp, trong khi sản phẩm cùng tên sản xuất và sử dụng ở Mexico là loại có nguồn gốc tự nhiên được chế bằng cách nghiền nát hạt mơ.

Quả mơ, hạt mơ, nước mơ, dầu mơ  đã từng là những loại thực phẩm truyền thống của nhiều dân tộc hoặc nhiều bộ lạc khác nhau, người Abkhasian ở Liên xô, Hunza ở Pakistan, bộ lạc Vilcabiumba ở Ecuador, một số bộ lạc ở Nigeria.  Ở nước ta, sản phẩm thông dụng nhất từ mơ là nước mơ và ô mai.  Trong quyển sách Hunza Health Secret, khi mô tả lối sống trường thọ, mạnh khoẻ và  năng động của những người Hunza, tác giả Renee Taylor đã cho biết dân ở đây đã tìm thấy một nguồn chất béo thực vật rất quý trong hạt mơ.  Nhiều nghiên cứu sau nầy đã cho thấy dầu thực vật có hàm lượng cao các loại acid béo chưa bão hoà hữu ích cho hệ tim mạch và hoạt động thần kinh  Dầu hạt mơ có vai trò rất quan trọng trong cuộc sống ở Hunza.  Thậm chí việc gả chồng cho con gái cũng dựa vào yếu tố chàng trai có được bao nhiêu gốc mơ trong vườn nhà anh ta.  Hunza là một khu vực thung lũng trong dãy Hy Mã Lạp Sơn rộng khoảng 600 dặm vuông, cao khoảng 8000 feet khỏi mặt nước biển.  Những phụ nữ ở đây đã truyền cho nhau từ thế hệ nầy sang thế hệ khác về cách sử dụng những món ăn từ quả mơ, hạt mơ.  Họ dùng mơ dưới mọi hình thức.  Mơ được chế thành bột nhồi, mứt, bánh mì và nước mơ.  Dầu mơ để chiên xào, trộn salad, làm thuốc để đẹp da và đẹp tóc.  Hạt mơ cũng được cắn bể để ăn phần hạt bên trong.   Ở đây, người ta ăn mơ tươi 3 tháng mỗi năm, những tháng còn lại ăn mơ khô, ăn cả phần hạt bên trong.


Con đường lao khổ của những chiến sĩ kiên trung vì lời thề Hypocrate.

Năm 1973, hai loại sản phẩm công nghiệp đầu tiên từ hạt mơ, Aprikern và Bee Seventeen được bào chế thành viên nhộng dạng bột có ghi rõ là sản phẩm từ loại hạt ăn được.  Tuy nhiên chỉ sau 3 tháng lưu hành, ngày 23.11.1973 lệnh cấm lưu hành và sử dụng  được ban hành bởi FDA, cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Hoa Kỳ.  Cơ quan này đã cho rằng B17 có độc tính và không có hiệu quả.  Vào khoảng tháng 12/1975, cảnh sát liên bang Hoa Kỳ đã chặn bắt một chuyến hàng Laetrile dưới dạng viên và thuốc chích  đang trên đường vận chuyển ở Rochester, Minnesota.  Trước đó 3 ngày, ông Robert W. Bradford, một kỹ sư điện, kỹ thuật viên phòng thí nghiệm, cũng bị bắt giữ khi đang nhận Laetrile từ 2 người Mexico.  Ông Bradford là Chủ tịch Uỷ Ban về Quyền Tự Do chọn lựa trong điều trị ung thư (Committee for Freedom of Choice in Cancer therapy).  Uỷ Ban nầy đã được thành lập trước đó không lâu với 28.000 thành viên  bao gồm  1.100 nhân viên y tế với 800 Tiến sĩ y khoa  để tranh đấu cho quyền tự do hành nghề của Bác sĩ cũng như tự do chọn lựa cách trị liệu không độc hại cho người bệnh.  John A. Richardson là  một bác sĩ người Mỹ đã tiên phong trong liệu pháp dinh dưỡng.  Ông đã  không ngừng cổ xuý và công khai dùng B17 và cách ăn uống truyền thống để điều trị cho bệnh nhân ung thư.  Cuối năm 1976, ông đã bị bắt vì sử dụng  Laetrile.  Cảnh sát cũng đã đột kích vào Bệnh viện của ông, hành hung, còng tay và bắt đi 2 nhân viên, một nam và một nữ trong bệnh viện.  Không lâu trước đó, năm 1975, Bác sĩ James Privitera ở West Covina, California,  người đã công khai sử dụng B17 như liệu pháp dinh dưỡng bị ngưng hành nghề và phải ra trước Uỷ Ban Kiểm Soát Y Khoa vì đã sử dụng những liệu pháp chưa chứng minh được.

 Trong khi những việc cấm đoán tiếp tục diễn ra như trên thì hàng ngàn người Mỹ vẫn phải sang các bệnh viện ở Tijuana, Mexico để được chữa trị bằng B17.  Những người giàu hơn có thể đi đến Tây Đức hoặc một nơi khác để được dùng B17 hoặc những liệu pháp “phi chính thống” tương tự.  Khi trở lại, lúc đi ngang qua biên giới, họ phải cất dấu số lượng thuốc mang theo vì phải đối mặt với sự tịch thu bất cứ lúc nào.  Với ảnh hưởng của các cơ quan truyền thông, phong trào đòi quyền sử dụng B17 càng lan rộng.  Một Uỷ Ban thỉnh nguyện việc lập tức thử nghiệm tác dụng của B17 đã ra đời.  Ngày 26.2.1974, một bản thỉnh nguyện thư (the Test Laetrile Now Petition) mang theo 8.000 chữ ký, đại diện cho 43.000 bệnh nhân ung thư đã được gởi đến Tổng thống Nixon và các Thượng Nghị Sĩ Quốc Hội Mỹ.  Bản thỉnh nguyện thư có ghi“mỗi người trong số 43.000 nạn nhân bệnh ung thư sẵn lòng tham gia vô điều kiện vào bất cứ cuộc thử nghiệm y khoa nào được tổ chức để kiểm tra tác dụng của thực phẩm chức năng có chứa Laetrile”

B17 độc và không độc.

HCN, hoạt chất chính trong B17,  là một chất có độc tính.  HCN tác dụng trên trung khu thần kinh, với liều nhỏ gây hưng phấn, liều lớn gây ức chế, có thể dẫn đến hôn mê.  FDA cho rằng với liều trung bình 2mg HCN mỗi viên thì 5 viên có thể gây ngộ độc cho trẻ em và 20 viên sẽ độc cho người lớn. Tuy nhiên, lý lẽ mà những nhà khoa học bảo vệ B17 đưa ra lại khác.  Liều lượng HCN có trong hạt mơ hoặc liều dùng hàng ngày là không đáng kể và tổng lượng mà FDA đã gợi ra để cho rằng có độc tính không hề xảy trong điều kiện  thực tế.  Trong những cộng đồng có truyền thống sử dụng các thực phẩm từ quả mơ, chưa có một thông tin nào cho thấy có xảy ra ngộ độc vì ăn hạt mơ, hay dầu mơ.  Các nhà khoa học giải thích, không giống như HCN trong thí nghiệm của FDA, dưới sự hiện diện của những enzym có sẵn trong hạt mơ và những enzym khác trong dịch tiêu hoá, lượng HCN sẽ được phóng thích và hấp thu từ từ mà không sợ tổn hại cho cơ thể.  Một luận điểm đáng chú ý nữa là một loại thuốc thường được sử dụng khi cân phân giữa hiệu quả và độc tính, giữa lợi và hại, khi mà điều lợi là cần thiết và luôn lớn hơn điều hại.  Penicillin có thể gây ra những phản ứng nguy hiểm nhưng vẫn được lưu hành, nhân sâm đại bổ nhưng vẫn có những trường hợp vừa uống vào khỏi cổ đã tử vong.  Cụ thể ở bệnh ung thư, hoá chất xạ trị và B17, cái nào độc hơn cái nào.  Vậy mà  xạ trị vẫn gián tiếp được khuyến khích sử dụng và luôn được FDA bảo vệ!  Cũng cần nói thêm, không chỉ có B17, hạt mơ còn có B15 tức acid pangamic, được tìm thấy năm 1951 và được xem là một chất dinh dưỡng hữu ích trong nhiều bệnh về tim, gan, phổi như viêm gan, xơ gan.  Ngoài ra, hạt mơ còn có nhiều chất khoáng và chất chống oxy hoá khác để tạo nên mộtnhóm chất hổ tương, chất nầy làm tăng hiệu lực của chất kia để nâng cao sức miễn dịch và chống thoái hoá tế bào.  Do đó, B17 trong liệu pháp dinh dưỡng hoàn toàn khác với hoá chất HCN!  Không riêng gì những hợp chất có độc tính, giá trị bổ dưỡng hoặc trị liệu của một món thực dưỡng sẽ khác nhau do cách chế biến.  Chẳng hạn cà chua có tác dụng chống ung thư. Tuy nhiên ăn cà chua sống không bằng cà chua nấu chín. Ăn nguyên quả cà chua tác dụng cao hơn nhiều so với ăn chất chiết xuất carotenoids từ cà chua.  Sau nầy một nghiên cứu ở Mỹ cũng cho thấy là ăn các loại thực phẩm tự nhiên có chứa các sinh tố  B6, B12 và Folate sẽ giảm nguy cơ ung thư tuỵ tương ứng là 81%, 73% và 52%.  Ngược lại những người dùng các viên sinh tố tổng hợp  có các sinh tố trên chẳng những không giảm mà còn tăng nguy cơ ung thư tuỵ lên đến 139%.

Ngoài ra, cũng nên biết rằng hợp chất amygdalin còn được tìm thấy trong rất nhiều loại hạt và rau củ khác như hạt kê, hạt đay, hạt mè, hạt hạnh nhân, hạt mận, hạt lê, hạt cherry, khoai mì, hạt đào.  (B17 không có trong hạt điều, hạt chanh).  Trong khi hạt mơ chỉ có khoảng 3% thì tỷ lệ nầy trong hạt đào là 3,5%.  Vậy mà hạt đào, thường gọi là đào nhânlại là một vị thuốc rất phổ biến trong Đông y.  Đào nhân có tác dụng phá huyết ứ, nhuận táo, hoạt trường. Liều dùng trung bình của đào nhân từ 6 đến 12g mỗi ngày. Sách Nam Dược Thần Hiệu có ghi lại 2 phương thuốc mà vị đào nhân có thể dùng với liều cao hơn nhiều.  Bí đại tiện, dùng 40g đào nhân luộc ăn cả lúc bụng đói. Ho hen, thở ngắn, dùng100g đào nhân giã nát, cho vào một bát nước lắng lấy nước cốt nấu cháu với gạo tẻ.

 Hiệu quả hay không hiệu quả ?

Từ những năm 1950s, nhiều nơi trên thế giới đã chú ý đến giá trị của B17.  Theo Tiến sĩ Manuel D. Navarro, Giáo sư sinh hoá ở trường Đại học Santo Tomas, Manila, Philippines  ”Laetrile là loại thuốc lý tưởng để điều trị ung thư”.  Tiến sĩ Ettore Guidetti thuộc trường Đại họcTurin, Ý cũng đã báo cáo trước Liên Đoàn Ung Thư Quốc Tế (International Union Against Cancer) vào năm 1954 rằng có thể điều trị cho bệnh nhân ung thư bằng Laetrile mà không cần phải giải phẫu.  Tiếp theo, đã có nhiều nhà khoa học thuộc các nước khác nhau  như Anh, Bỉ, Nhật, Ý, Canada  hoặc đơn độc hoặc hợp tác trong nhiều nghiên cứu y khoa về tác dụng của B17.  Ở Mỹ, Tiến sĩ John A, Morron, trên cơ sở hợp tác nghiên cứu với những tổ chức ở Canada,  đã viết một  báo cáo về những bệnh nhân ung thư được điều trị với B17.  Báo cáo được phổ biến trên tạp chí Experimental Medicine and Surgery (số 4, 1962) có ghi rõ “những kết quả gây ấn tượng dặc biệt về giảm đau”.  Sau một hoặc 2 lần chích B17, có 5 trong số 10 bệnh nhân có cơn đau đã biến mất hoàn toàn.  Trong bảng tóm tắt, ông lưu ý đến những hiệu quả giảm đau, giảm mùi hôi thối, phát triển cảm giác thèm ăn và giảm viêm sưng nơi khối u.

Trong quyển sách Freedom from cancer của Macheal L. Culbert, ký giả báo Berkeley Daily Gazette, đã kể lại một trường hợp ung thư giai đoạn cuối được chữa khỏi.  Một thanh niên 18 tuổi ở Plainview đã được xét nghiệm và chẩn đoán là ung thư dịch hoàn giai đoạn cuối ở Bệnh viện Minnesota, đã trải qua phẫu thụât ở Bệnh viện Mayo.  Sau đó, Bác sĩ điều trị cho biết cần phải tiếp tục xạ trị.  Cũng vào thời điểm nầy cha mẹ cậu nghe nói về B17.  Tháng 1.1972, ông bà quyết định đưa cậu sang Bệnh viện Contreras ở Tijuna,  Mexico, không xa lắm từ Minnesota.  Trong thời gian ở đây, từ tháng 1 đến tháng 5.1972, cậu thanh niên được chích B17, thêm một số sinh tố, và một chế độ ăn khá nghiêm nhặt.  Sau đó, cậu trở về nhà và được tiếp tục dùng B17 dưới dạng thuốc viên.  Đến tháng 9.1972, tất cả các xét nghiệm kiểm soát bởi các bác sĩ người Mỹ ở địa phương  đã cho biết cậu đã hoàn toàn khỏi bệnh. 

Chân lý bị che mờ?

Vào tháng 1.1975, Tiến sĩ Chester Stock, Phó Chủ tịch Hội Nghiên Cứu Ung thư Sloan-Kettering ở Newyork (SK) khi trả lời phỏng vấn cho đài truyền hình Canada đã cho biết là đã có  những kết quả “rất có ý nghĩa” khi thử nghiệm  B17 trên loài chuột. Tuy nhiên, vấn đề cũng chỉ dừng lại ở đó và không có sự công bố chính thức. Đến tháng 7.1975, một phát ngôn viên của SK, khi trả lời phỏng vấn báo New York Times đã phủ nhận thông tin trên và nói rằng những thử nghiệm trước đó của Tiến sĩ Sugiura không được công nhận, dù cho vị nầy là một nhà khoa học hàng đầu về lãnh vực nầy lúc bấy giờ.  Đặc biệt, vào ngày 23.8.1975, phóng viên Culbert đã nhận được một bức thơ nặc danh có tiêu đề của hội SK (được gởi đến từ một viên chức của SK) kèm theo 32 trang giấy mô tả đầy đủ quá trình của 6 cuộc thử nghiệm B17 trên loài chuột. Nghiên cứu được thực hiện bởi Tiến sĩ Sugiura thuộc SK trong khoảng thời gian từ 3.8.1973 đến ngày 8.2.1975.  Tất cả các thử nghiệm đều cho thấy những tác động tích cực của B17 trên những con chuột bị ung thư, nhất là tác dụng phong toả khối u, không cho di căn.  Bức thư viết “Đây là một số kết quả thí nghiệm của Sloan-Kettering với Laetrile. Vì những áp lực chính trị, những kết quả nầy đã bị bưng bít, xin hãy cố gắng hết sức để những dữ liệu quan trọng này nhận được sự chú ý của công luận”.
Vào những năm 1970s, những báo cáo về sử dụng B17 từ Bác sĩ Ernesto Contreras có lẽ đáng lưu ý hơn cả.  Tiến sĩ Contreras tốt nghiệp Đại học Quân y Mexico, nghiên cứu sau đại học ở Boston, là Giám đốc Bệnh viện Del Mar ở Tijuna, Mexico. Báo cáo sơ khởi về 500 trường hợp giữa 1963 và 1967 cho biết B17 có hiệu quả tốt trong 64% và 36% không đáp ứng.  Đến 1976, theo hồ sơ y khoa của trên 10.000 bệnh nhân trong thời gian 14 năm, con số là 67% đáp ứng tích cực. Đáp ứng mà ông mô tả được ở các bệnh nhân gồm gia tăng sự bình an, giảm hoặc mất hẳn cảm giác đau đớn, lấy lại sắc diện, thèm ăn và tăng cân.  Ông không dùng từ chữa khỏi (cure) mà là kiểm soát (control).  Một số đã kiểm soát hoàn toàn căn bệnh.  35% đã không đáp ứng gì với B17.  Trong số 65% đáp ứng thì có khoảng phân nửa trong số nầy đã có dấu hiệu bệnh tái lại sau khi phục hồi được một thời gian.  Số còn lại từ sự hồi phục từng phần các triệu chứng cho đến biến mất hoàn toàn tất cả các triệu chứng.  Báo cáo cũng cho thấy hầu hết bệnh nhân ung thư của ông là người Mỹ, 90% số này là ung thư giai đoạn cuối, những người đã được chẩn đoán và xác định là chỉ còn sống một thời gian ngắn, vài ngày, vài tuần họăc vài tháng.

Ở những bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối, tỷ lệ 30% đáp ứng tốt quả là đáng khích lệ.  Tuy nhiên, vào khoảng 1982, dưới sự bảo trợ của NCI, Hội Ung Thư Quốc Gia Mỹ,  một cuộc nghiên cứu được thực hiện ở Bệnh viện Mayo Clinic và 3 Trung Tâm Nghiên Cứu Ung Thư khác ở Mỹ trên 178 bệnh nhân ung thư đang phát triển lại được báo cáo là không chứng minh được hiệu quả gì trong điều trị ung thư!  Một số trường hợp khối u đã phát triển hoặc có dấu hiệu ngộ độc HCN!  Những người bảo vệ B17 không tỏ ra tin tưởng lắm độ xác thực của những dữ liệu nầy. Đó là chưa kể đến yêu cầu quan trọng của một liệu pháp dinh dưỡng là phải kèm theo một chế độ ăn nghiêm nhặt và B17 được sử dụng phải là loại có nguồn gốc thiên nhiên chớ không thể là loại hoá chất Laetrile, nhãn hiệu được cấp phép sản xuất tổng hợp ở Mỹ và là loại được sử dụng trong những nghiên cứu này.  

Chuyện không có hồi kết.

Tịch thu, bắt bớ, cấm đoán kể trên là dạo những năm 1970s.  Đó là những cao điểm trong phong trào đòi quyền bình đẳng cho B17 và việc tự do hành nghề, tự do sử dụng B17 trong điều trị ung thư ít tốn kém và không độc hại.  Đến nay, gần 40 năm trôi qua, trong số những người đã tranh đấu vì B17, nhà khoa học, bác sĩ điều trị hoặc bệnh nhân ung thư thì một số đã ra đi mà chưa thấy được kết quả.  Cho đến nay, chỉ có 19 tiểu bang trong số trên 50 tiểu bang của Hoa kỳ cho phép bán vị thuốc này với một số hạn chế về phương thức sử dụng. Cụ thể, tại California, nơi khởi xướng việc sử dụng B17, nơi mà B17 bị triệt để săn lùng và cấm đoán từ những năm 1970s thì đến nay tình hình vẫn không thay đổi,  B17 vẫn là món thực dưỡng vô thừa nhận!

Vào những năm 1970s, lý thuyết về những chất chống oxy hoá chưa được quan tâm nhiều, những người bảo vệ liệu pháp dinh dưỡng lúc đó đã cho rằng ung thư là một loại bệnh do thiếu dinh dưỡng.  Giống như thiếu Vitamin C sẽ bị bệnh Scurvy, thiếu Vitamin B3 sẽ bị Pellagra, thiếu B17 sẽ dễ dẫn đến ung thư.  Như vậy, là một loại  sinh tố, một thực phẩm chức năng thì vì lẽ gì nó đã bị  cấm đoán?   Phải chăng chỉ vì “có độc tính” hoặc “không hiệu quả”? G. Edward Friffin, tác giả quyển sách World without Cancer:The Story of Vitamin B17 cho rằng không thể tìm thấy câu trả lời từ phương diện khoa học mà phải từ phương diện chính trị, trên cơ sở những quyền lực của những  tập đoàn kinh tế.  Ông cho rằng hàng năm có hàng tỉ đô la bỏ ra cho việc nghiên cứu và hàng tỉ đô la khác cho việc sản xuất thuốc trị ung thư.  Có lẽ số người sống nhờ vào bệnh ung thư còn nhiều hơn cả số bệnh nhân chết vì ung thư.  Nếu giải pháp chữa ung thư hoặc phòng được bệnh ung thư chỉ bằng một loại sinh tố hoặc những thực phẩm chức năng đơn giản, dễ tìm, hoặc ít tốn kém thì chẳng lẽ kỹ nghệ đồ sộ về ung thư phải bị xóa sổ hay sao?

Có thể đó là những suy nghĩ qua khích. Tuy nhiên, ung thư là một kẻ thù nguy hiểm của nhân loại, đang bành trướng với tốc độ nhanh trong những năm gần đây. Do đó, bất cứ liệu pháp nào hoặc chất nào có khả năng điều trị hoặc có thể giúp vơi bớt nổi đau của người bệnh đều cần được đầu tư nghiên cứu.

B17 và liệu pháp tự nhiên.

HCN là một chất độc. Theo quan điểm về thực dưõng phương Đông, Laetrile tổng hợp cũng là một hoá chất độc hại.  Tuy nhiên, quả mơ, hạt mơ là những thực phẩm bổ dưỡng truyền thống. Quả mơ có nhiều chất chống oxy hoá mạnh  như Vitamin C, caroten, lycopen, quercetin.  Khi ăn nguyên quả mơ, chất xơ và những vi chất khác trong quả sẽ giúp cho các chất - kể cả HCN - được chuyển hoá phù hợp và hữu ích nhất cho cơ thể mà không sợ độc hại, miễn là không ăn quá nhiều cùng một lúc.  Mỗi người có thể ăn khoảng 10 quả mơ mỗi ngày, ăn cả hột, ăn mỗi lần từ 1 đến 2 quả, ăn nhiều lần trong ngày  mà không sợ nhiễm độc. Khi cần ăn nhiều hạt hơn, nên luộc chín trước khi ăn.

Không có một liệu pháp nào hoặc một loại chất, loại hạt đơn độc nào có thể đảm bảo chữa khỏi được ung thư. Bệnh ung thư là bệnh của hệ miễn dịch, chữa khỏi bệnh phải bao gồm nhiều biện pháp tổng hợp để nâng cao sức miễn dịch. Hiện nay nhiều nghiên cứu đã cho thấy nhiều chất chống oxy hoá trong các loại hạt thô và rau quả có tác dụng trung hoà những gốc tự do, nâng cao sức miễn dịch, bảo vệ màng tế bào qua đó đảo ngược tiến trình ung thư hoá.  Điều cần lưu ý là không thể chỉ ăn một loại hạt hoặc một loại rau quả, dù đó là loại có một vài chất chống oxy hoá cực mạnh.  Các nhà khoa học đều đồng ý rằng những vi chất dinh dưỡng đều hoạt động theo nhóm, sự hiện diện của chất này sẽ làm tăng tác dụng của chất kia.  Do đó cần ăn đa dạng nhiều loại rau củ quả, ngũ cốc và các loại đậu mè khác nhau vừa bảo đảm đủ  những nhóm chất cơ bản, vừa đủ những vi chất và chất chống oxy hoá cần thiết.

Ngoài ra, việc phòng chống ung thư sẽ không hữu hiệu nếu việc ăn nhiều hạt, rau quả không kèm theo các biện pháp nhằm giảm thiểu những gốc tự do hoặc chấm dứt việc phơi nhiễm những tác nhân gây ung thư.  Do đó, vận động hợp lý, thực hành thư giãn, sinh hoạt lành mạnh, không hút thuốc, uống rượu, tránh ăn các thực phẩm chế biến công nghiệp và các loại đạm động vật luôn là những biện pháp quan trọng trong việc chữa bệnh cũng như ngăn chận bệnh tái phát.

Tài liệu tham khảo:

-          Michael L. Culbert. Freedom from Cancer. 76’Press. Cal. 1976.
-          Earl Mindell. Vitamin Bible. Warner Books
-          http:www.cancer.gov/cancertopics.
-          World without Cancer. www.VitaminB17.org.

Tác động của AHCC tới việc điều trị Ung thư

Liệu pháp điều trị ung thư mới:

Tế bào NK tác động lên tế bào Ung thư

Các nghiên cứu khoa học gần đây về AHCC - một chiết xuất từ sợi nấm đã chứng minh những lợi ích to lớn của việc sử dụng các hợp chất tự nhiên như một phản ứng sinh học giúp phục hồi và kích thích hệ miễn dịch tự nhiên của con người rất mạnh mẽ, hiệu quả và an toàn để điều trị các căn bệnh nguy hiểm như ung bướu, suy giảm miễn dịch...

 Tế bào NK (Natural Killer Cell) hay còn gọi là sát thủ tự nhiên được xem như là thứ vũ khí sắc bén nhất trong các loại tế bào miễn dịch tự nhiên để tiêu diệt các tế bào ung bướu. Trong cơ thể con người, hệ thống miễn dịch bao gồm hơn 130 tập hợp con của các tế bào máu trắng, trong đó tế bào NK chiếm khoảng 15%. Tế bào NK là tế bào có phản ứng đầu tiên đối phó với bất kỳ hình thức xâm nhập nào của tế bào lạ. Mỗi tế bào NK có chứa nhiều hạt nhỏ có phản ứng rất nhanh. Khi một tế bào NK phát hiện tế bào ung thư, nó sẽ áp sát vào màng ngoài của tế bào ung thư và tiêm những hạt nhỏ này trực tiếp vào bên trong, tiêu diệt các tế bào ung thư. Dù vậy, các tế bào NK không bị hư hại mà ngay sau đó chuyển sang tế bào ung thư khác và lặp đi lặp lại quá trình này.

Khi các tế bào NK đang hoạt động, tất cả mọi thứ vẫn trong tầm kiểm soát. Nếu các tế bào NK bị suy yếu, mất khả năng nhận diện và tiêu diệt thì tình trạng bệnh tật có thể xấu đi nhanh chóng. Ở những bệnh nhân AIDS và ung thư, hoạt động của tế bào NK là tiêu chí chính để đánh giá cơ hội sống sót.
Các nhà khoa học Nhật Bản đã phát hiện và nghiên cứu ra một liệu pháp mới mang tính đột phá giúp kích thích tăng cường sự hoạt động của hệ thống miễn dịch con người nhằm tiêu diệt các tế bào ung thư, virus và vi khuẩn gây bệnh lên đến 300%. Vậy liệu pháp đó là gì?

Bản báo cáo ung thư toàn cầu do WHO đưa ra được hãng tin CNN dẫn lại, dự đoán số ca ung thư hàng năm sẽ tăng từ 14 triệu vào năm 2012 lên 22 triệu chỉ trong vòng 2 thập niên. Cùng giai đoạn này, số bệnh nhân chết vì ung thư ước tính sẽ tăng từ 8,2 triệu lên 13 triệu người mỗi năm. Tại sao lại có sự gia tăng đáng báo động này? có nhiều nguyên nhân, trong đó hơn 80% là do môi trường bên ngoài, riêng hút thuốc đã chiếm 30% số nguyên nhân gây ra các loại ung thư. Chế độ dinh dưỡng không hợp lý và đặc biệt thức ăn có chứa nhiều hóa chất bảo quản độc hại cũng là những nguyên nhân quan trọng để gây bệnh.

Các tế bào Ung thư sẽ xuất hiện khi xảy ra sự biến đổi trong các gen chịu trách nhiệm cho sự tăng trưởng và khôi phục các tế bào. Những biến đổi này là kết quả của sự tương tác giữa các yếu tố di truyền và các tác nhân gây bệnh như đã đề cập ở trên. Trong cơ thể con người luôn tồn tại một tế bào đặc biệt được gọi là tế bào miễn dịch NK (còn gọi là "sát thủ tự nhiên"). Những tế bào này là rất quan trọng, đây là loại vũ khí sắc bén nhất trong các loại tế bào tự nhiên có thể tiêu diệt các “phần tử phiến loạn” và phát động một cuộc tấn công nhanh, trong khi các tế bào khác của hệ miễn dịch vẫn được huy động. Khi các tế bào NK hoạt động mạnh thì các tế bào ung thư bị diệt, làm giảm khối u. Các nghiên cứu cho thấy, để tế bào NK tiêu diệt các khối u và các tế bào bị nhiễm virus sinh ra, các tế bào NK phải được kích hoạt. Do đó, phải cần các tác nhân kích thích hoạt động của tế bào NK và tăng cường sự kiểm soát các khối u và khả năng sao chép của virus.

Kích hoạt hoạt động các tế bào NK giúp cơ thể thông qua hai phương thức hành động. Đầu tiên, ngay lập tức tiết ra các cytokine hóa protein "khai hỏa và tấn công" của hệ thống miễn dịch của cơ thể. Thứ hai, các tế bào NK tiết ra hoạt chất trực tiếp phá hủy các khối u và các tế bào bị nhiễm virus. Khi hoạt động của NK suy yếu thì tế bào ung thư có thể tự do sinh sôi và phát triển thành khối u. Đó là những gì đang xảy ra hiện nay.

AHCC - hợp chất tương quan hexose hoạt tính từ Nhật Bản đã chứng minh được khả năng kích thích mạnh mẽ hoạt động của các tế bào NK, các đại thực bào và lần lượt, tiếp tục kích thích hệ miễn dịch bao gồm một số cytokines (Interleukin-2, Interleukin-12, yếu tố hoại tử khối u TNF, và Interferon). Các thành phần của AHCC còn có thể có tác dụng gây độc tế bào trực tiếp vào tế bào ung thư và ngăn ngừa di căn xảy ra. Chức năng chính của AHCC là kích thích nâng cao hoạt động của hệ miễn dịch chứ không phải tấn công các tế bào ung thư trực tiếp, điều này có thể giải thích tại sao AHCC có tác dụng với tất cả các loại ung thư. 
Các nghiên cứu trên diện rộng liên quan đến các bệnh nhân ung thư ở độ tuổi từ 42 đến 57, các loại bệnh ung thư  bao gồm ung thư vú, ung thư cổ tử cung, ung thư tuyến tiền liệt, bệnh bạch cầu, và đa u tủy. Tất cả bệnh nhân có hoạt động của tế bào NK rất thấp vào giai đoạn đầu của quá trình nghiên cứu. Nhưng chỉ sau hai tuần sử dụng AHCC, hoạt động của tế bào NK đã tăng lên như sau: ung thư vú 154 - 332%, ung thư cổ tử cung 100 - 275%, ung thư tuyến tiền liệt 174 - 385%, bệnh bạch cầu 100 - 240%, và đa u tủy 100 - 537% (Nghiên cứu được báo cáo tại hội nghị thường niên thứ 87 của Hiệp hội Nghiên cứu ung thư thế giới).
AHCC là một hợp chất được phát minh, nghiên cứu và sản xuất tại Nhật Bản. AHCC đã chứng minh được khả năng trợ giúp, điều trị, phối hợp hiệu quả cho các căn bệnh ung thư, nhờ khả năng phục hồi và kích thích hệ miễn dịch, tăng sinh tế bào miễn dịch. AHCC đã được nghiên cứu và chứng minh lâm sàng tại hơn 70 trung tâm nghiên cứu, các bệnh viện và trường đại học hàng đầu thế giới. AHCC hiện nay được sử dụng tại trên 20 quốc gia, và trên 1.000 bệnh viện và các cơ sở y tế, đứng đầu là Nhật Bản, Mỹ, có hàng trăm ngàn người trên thế giới đang sử dụng hằng ngày.
Chúng ta cần phương pháp điều trị tốt hơn. 
Khi một người được chẩn đoán mắc bệnh ung thư, các phương pháp điều trị chủ yếu hiện nay là hóa trị và xạ trị. Cả hai phương pháp này đều có tác dụng phụ khủng khiếp, tàn phá cơ thể, gây rụng tóc và ói mửa kéo dài... Cả hai đều đầu độc hệ thống miễn dịch và tiêu diệt khả năng đề kháng của cơ thể.

Một trong những phương pháp điều trị ung thư đang được áp dụng phổ biến ở Nhật Bản hiện nay không phải là hóa trị hay xạ trị. Thay vào đó, các bác sĩ sử dụng các liệu pháp tăng cường hoạt động, kích thích hệ thống miễn dịch tiêu diệt các tế bào ung thư đang làm giảm sức đề kháng tự nhiên của cơ thể. Đây là phương pháp chữa trị an toàn, hiệu quả, không chỉ đối với bệnh ung thư, vi rút, nhiễm khuẩn, bệnh tim, khớp, dị ứng, mà còn nhiều bệnh khác… Liệu pháp này là một thành tựu lớn trong y học và y học hiện nay phải công nhận: hệ thống miễn dịch là chìa khóa để đánh bại bệnh ung thư và nhiều bệnh nguy hiểm khác…

AHCC -"tên lửa đẩy miễn dịch":

Các nhà khoa học Nhật Bản qua nhiều năm nghiên cứu hoạt động miễn dịch đã tìm ra một hợp chất tự nhiên có trong một số loại nấm. Đó là Hợp chất tương quan hexose hoạt tính (Tên gọi tắt là AHCC) được điều chế từ hệ sợi nấm Basidiomycete. Những nghiên về AHCC cho thấy nó được ví như một “tên lửa đẩy miễn dịch” của con người mạnh mẽ nhất từng được thử nghiệm. Nó xuất hiện để kích thích tăng cường hoạt động của tế bào NK lên đến 300% hoặc nhiều hơn. AHCC kích thích hoạt động của tế bào NK một cách nhanh chóng. Các xét nghiệm y tế (các chức năng tế bào NK) cho thấy hoạt động NK tăng lên chỉ 4 giờ sau khi điều trị. Các chuyên gia còn phát hiện ra AHCC có thể hữu ích trong việc ngăn ngừa và điều trị nhiễm trùng cho các phi hành gia khi họ đang ở trong không gian. AHCC hiện nay là một trong những liệu pháp điều trị ung thư hàng đầu ở nước này.

Hầu hết các nghiên cứu về AHCC đã được thực hiện trên những bệnh nhân đang trải qua điều trị ung thư thông thường. Thực tế nghiên cứu cho thấy: Bệnh nhân ung thư gan sử dụng AHCC như một phần của phác đồ điều trị, AHCC hỗ trợ ngăn ngừa, làm giảm sự phát triển của khối u và tỷ lệ sống sót cao hơn sau khi phẫu thuật. AHCC đảo ngược sự hiện diện của các tế bào tiền ung thư ở cổ tử cung (thể hiện bằng xét nghiệm Pap), các mô trở lại bình thường sau thời gian chậm nhất là 6 tháng. Ung thư cổ tử cung là một trong những bệnh điều trị khó khăn nhất, vì vậy liệu pháp này là rất cần thiết cho phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh này. Nghiên cứu cũng cho thấy AHCC còn là một công cụ mạnh mẽ trong việc điều trị nhiều bệnh ung thư khác, bao gồm cả bệnh bạch cầu, ung thư vú, buồng trứng và ung thư tuyến tiền liệt… AHCC cải thiện tỷ lệ sống sót, làm giảm các tác dụng phụ của hóa trị và xạ trị.

AHCC đã được nghiên cứu và chứng minh lâm sàng tại hơn 70 Trung tâm nghiên cứu, các Bệnh viện và trường Đại học hàng đầu thế giới. Có nhiều bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học uy tín, có trên 30 ấn phẩm khoa học được phát hành trên Thư viện y khoa PubMed – Thư viện y khoa điện tử uy tín nhất tại Mỹ, không thể thiếu của Các nhà khoa học, giới chuyên môn, các bác sỹ trên toàn thế giới. AHCC hiện nay được sử dụng tại trên 20 quốc gia, đứng đầu là Nhật Bản, Mỹ. Trên 700 bệnh viện và các cơ sở y tế qui định AHCC là một chế phẩm bổ sung tăng cường miễn dịch đặc hiệu. 

Không giống như nhiều phương pháp điều trị ung thư làm suy yếu cơ thể bệnh nhân theo thời gian, hoạt chất AHCC làm tăng cường sức khỏe, khả năng miễn dịch của cơ thể.. Khi chúng ta được tăng cường khả năng và sự hoạt động của hệ miễn dịch thì có thể phòng và chống nhiều hơn không chỉ là căn bệnh ung thư quái ác, mà đó cũng là cách để cơ thể chống lại các bệnh, virut: cúm, cảm lạnh, bệnh nhiễm trùng, suy giảm miễn dịch, vi khuẩn gây bệnh và kháng thuốc kháng sinh, và nhiều các bệnh khác

Nguồn: American Association for Cancer Research
Y Học Cổ truyền Việt Nam
(Sưu tầm).