BẾ TINH, DƯỠNG KHÍ, TỒN THẦN

THANH TÂM, QUẢ DỤC

THỦ CHÂN, LUYỆN HÌNH

Showing posts with label Châm cứu. Show all posts
Showing posts with label Châm cứu. Show all posts

Danh từ huyệt vị châm cứu - Phần 21: Đốc Mạch (Hết)

XV.ĐỐC MẠCH

- Đốc mạch kinh huyệt ca :

Đốc mạch tung hành nhị thập thất
Trường cường, Yêu du, Dương quan mật,
Mệnh môn, Huyền khu, tiếp Tích trung,
Cân súc, Chí dương, Linh đài dật,
Thần đạo, Thân trụ, Đào đạo trưởng,
Đại chùy, Hình kiên, Nhị thập nhất
Á môn, Phong phủ, Não hộ thâm,
Cường gian, Hậu đỉnh, Bách hội suất,
Tiền đỉnh, Tín hội, Thượng tinh viên,
Thần đỉnh, Tố liêu, Thủy câu quật,
Đài đoan, khai khẩu thần Trung ương
Ngận giao, Thần nội Nhâm Đốc hóa.

Gồm 27 huyệt.

Kinh này không lấy Tỉnh, Vinh, Du, Hợp.

Mạch bắt đầu từ Du cuối cùng, gồm ở trong xương sống, lên đến Phong phủ, vào trên đỉnh chót của não, theo trán xuống đến mũi, thuộc bể của dương mạch. Lấy mạch lạc ở đó của người ta, lưu vòng quanh ở các phần dương. Ví dụ như nước vậy, mà Đốc mạch như đô của cái võng, cho nên gọi là hải. Dùng thuốc khó câu nệ vào một cách, châm cứu quý ở chỗ xét nguồn bệnh.

Cần biết Nhâm Đốc hai mạch mà một công,  trước hết nghĩ rằng 4 cửa ngoài khép lại, hai mắt xem vào bên trong, im lặng hình dung ra, hạt ngọc bằng hạt lúa, quyền làm chủ Hoành đình, bỏ đi từ từ khí ở họng một miệng, chậm chậm nạp vào Đan diền, xông dậy Mệnh môn, dẫn Đốc mạch qua Vĩ lư (Xương đuôi) mà thẳng lên Nê hoàn (đỉnh sọ). Truy động tính nguyên, dẫn Nhâm mạch giáp trọng lâu, mà xuống lại Khí hải, hai mạch lên xuống, xoay chuyển như cái vòng tròn, trước giáng, sau thăng, nối tiếp không dứt, Tâm như nước dừng thấm tựa như cái hũ rộng, tức thì tưởng lỗ đít nâng nhẹ lên, mũi thở tạm bê lại. Thảng hoặc khí cấp, từ từ nuốt đi, nếu như lại thần Hôn, cần thêm chú tưởng. Ý mệt thì phóng thêm, làm mãi lâu dài như thế các quan khiếu tự khai, mạch lạc lưu thông, bách bệnh không làm.

Quảng Thành Tử nói rằng : «Đan táo hà xa lưu quật quật (nghĩa đen : bếp đỏ xe sông gắng gắng nghỉ), là nói về việc đó. Đốc mạch vốn là thông chân lộ, Đan kinh bày ra làm rất nhiều lời, nhưng tôi chỉ ra cái lý của huyền cơ, chỉ nguyện người người thọ vạn năm.

CÁCH TÌM ĐÚNG HUYỆT :

1. TRƯỜNG CƯỜNG :長强

Khỏe mạnh lâu dàu
Có tên là Quyết cốt – Khí chi âm tà
Huyệt Lạc với Mạch Nhâm

- Vị trí : Phía dưới xương cụt đuôi, phía sau lỗ đít. Quỳ cúi gập (phủ phục) mà lấy huyệt. Túc Thiếu âm, Thiếu dương hội ở đó. Là Lạc của Đốc mạch tách đi sang nối với Nhâm mạch.

- Cách châm cứu : Châm đứng kim sâu 0,5 – 1 thốn, cứu 3 – 7 mồi, hơ 5 – 15’

- Chủ trị : Lòi dom, trường phong ỉa ra máu, trĩ, âm nang thấp chấn, ỉa chảy, dẫn sản, liệt dương, chứng thần kinh phân liệt, di tinh, lậu, đái đục, giật duỗi, cuồng điên, đau cột sống thắt lưng, đái ỉa khó, nặng đầu, ngũ lâm (5 thứ đái buốt), cam ấn ở hạ bộ, trẻ em lõm thóp, nôn ra máu, sợ hãi mất tinh, nhìn ngó không thẳng, phòng lao (mệt mỏi do hoạt động tình dục).

- Tác dụng phối hợp : Với Thừa sơn trị ỉa ra máu, với Đại đôn trị sán khí, với Bách hội, Thừa sơn, Khí hải, trị thoát giang, với Âm lăng tuyền, Hợp cốc, Tam âm giao có thể dẫn đẻ,. Dùng kim 3 cạnh châm xung quanh Trường xường cách huyệt 0,3 thốn cho ra máu, châm sâu 0,5 – 1 thốn với Yêu kỳ, Điên nhàn huyệt trị điên nhàn, với Đại trường du, Thừa sơn, Bách hội trị thoát giang.

2. YÊU DU :腰俞

Đáp ứng yêu cầu của thắt lưng
Có tên là Bối giải, Tủy khổng, Yêu hộ

- Vị trí : Dưới mỏm gai đốt sống thứ 21 (đốt sống thứ tư mảng xương cùng).

- Cách châm cứu : Mũi kim chếch lên sâu 3 – 5 phân, cứu 7 mồi, hơ 5 – 15’

- Chủ trị : Đau lưng, kinh nguyệt không đều, điên nhàn, trĩ, đái không cầm, chi dưới tê bại, đau vùng xương chậu và cột sống, thắt lưng không thể cúi ngửa được, sốt rét thời khí, mồ hôi không ra, thương hàn tứ chi nóng không thôi, đàn bà bế kinh, nước đái đỏ.

3. YÊU DƯƠNG QUAN :腰陽關

Có liên hệ đến dương khí

- Vị trí : Ở chỗ lõm dưới mỏm gai đốt sống thắt lưng thứ 4. Nằm sấp ở chỗ đó tương đương bằng ngang với hai mào xương chậu 2 bên.

- Cách châm cứu : Châm đứng kim, mũi kim chếch lên sâu 1 – 1,5 thốn, cứu 3 – 7 mồi, hơ 5 - 15’

- Chủ trị : Đau thắt lưng và mảng xương cùng, kinh nguyệt không đều, khí hư, di tinh, liệt dương, lị, ỉa ra máu, chi dưới bại, liệt tê bại, viêm ruột mãn tính, lậu đái đục, bụng dưới chướng đau, nôn mửa không dứt, tràng nhạc, cạnh ngoài đầu gối không thể gập duỗi, gân co không đi được.

4. MỆNH MÔN :命門

Cửa của mạng sống
Có tên là Ngung lũy

- Vị trí : Ở chỗ lõm dưới đốt sống thắt lưng thứ 2, tương đương khoảng rốn ở phía trước.

- Cách châm cứu : Châm đứng kim sâu từ 3 – 5 phân, hơi chếch lên thì sâu từ 1 – 1,5 thốn, khi đến vùng sâu thì có cảm giác như kiến bò hoặc tê như điện giật lan xuống đến chi dưới. Cứu 3 – 7 mồi, hơ 5 – 20’

- Chủ trị : Đau thắt lưng, đau bụng, đau cứng cột sống, kinh nguyệt không đều, đau bụng hành kinh, băng lậu huyết, ỉa ra máu, liệt dương, di tinh, đái dầm, bong gân thắt lưng, khí hư, viêm màng trong dạ con, viêm xoang chậu, viêm tủy sống, đau thần kinh tọa, viêm thận, trẻ em tê bại do di chứng não, nóng rét, sốt rét lâu ngày, giật duỗi, lưng và bụng cùng dẫn đau, đau trường sán khí, lòi dom, đầu đau như phá, mình nóng như lửa, mồ hôi không ra.

- Tác dụng phối hợp : Với Đại chùy, Cách du, Khúc trì, Túc tam lý trị bần huyết do thiếu sắt trong máu, với cứu Bách hội, Quan nguyên, Tam âm giao, Trung liêu trị đái dầm dề, với Thận du, trị người già đái nhiều, với Bách hội, Quan nguyên trị ỉa chảy.

5. HUYỀN KHU :懸樞

Cái then cửa treo lơ lửng

- Vị trí: Dưới mỏm gai đốt sống thắt lưng thứ 1

- Cách châm cứu: Châm hơi chếch lên, sâu 0,5 – 1 thốn, cứu 5 – 7 mồi, hơ 5 – 10’

- Chủ trị: Đau lưng, cứng đau thắt lưng, tiêu hóa kém, viêm ruột, ỉa chảy, lị, đau bụng, lòi dom, trong bụng chứa tích, tích khí đi lên xuống.

6. TÍCH TRUNG :脊中

Giữa cột sống
Có tên là Thần tông – Tích du

- Vị trí : Dưới mỏm gai đốt sống lưng 11. « Đồng Nhân » nói : CẤM CỨU. Cứu ở đó làm cho người ta còng lưng.

- Cách châm cứu : Châm chếch lên 0,5 – 1 thốn, cứu 3 mồi, hơ 5 – 10’

- Chủ trị : Điên giản, vàng da, ỉa chảy, trẻ em lòi dom, trĩ, viêm gan, lưng dưới lưng trên đau, chi dưới tê bại, tức bụng không hám ăn, ôn bệnh tích tụ, ỉa dễ.

7. TRUNG KHU :中樞

Cái then ở giữa

- Vị trí : Dưới mỏm gai đốt sống lưng 10

- Cách châm cứu : Châm chếch lên sâu 0,5 – 1 thốn, cứu 5 mồi, hơ 5 – 10’

- Chủ trị : Lưng và thắt lưng cứng đau, đau dạ dày, ăn không biết ngon, viêm túi mật, sức nhìn giảm.

8. CÂN SÚC  :筋缩

Gân co rút

- Vị trí : Dưới mỏm gai đốt sống thắt lưng 9.

- Cách châm cứu : Châm chếch lên sâu 0,5 – 1 thốn, cứu 3 mồi, hơ 5 – 10’

- Chủ trị : Lưng và thắt lưng đau, đau dạ dày, thần kinh suy nhược, điên nhàn, bệnh thần kinh chức năng, viêm gan, viêm túi mật, viêm mạc lồng ngực, đau thần kinh liên sườn, cột sống cứng cấp, mắt xoay ngược lên, nhìn ngước lên, mắt trợn lên, đau tim, bệnh giản lắm lời.

9. CHÍ DƯƠNG :至陽

Dương đến hết mức

- Vị trí : Ở khe lõm dưới mỏm gai đốt sống lưng thứ 7, tương đương với đầu nhọn phía dưới xương bả vai ở 2 bên chiếu vào (khi buông xuôi bả cai tự nhiên và cân * bằng).

- Cách châm cứu : Châm chếch lên sâu 5 – 7 phân, cứu 3 mồi, hơ 5 – 15’

- Chủ trị : Ho hắng, hen phế quản, vai lưng đau và cổ ngay đơ, đau dạ dày, viêm gan, viêm túi mật, đau liên sườn, sốt rét, viêm mạc lồng ngực, giun chui ống mật, đau lưng dưới lưng trên, vàng da, tứ chi mỏi mệt nặng đau, ngực sườn đầy tức, lạnh dạ dày, dôi ruột, không thể ăn được, thân gầy yếu, giữa lưng trên có khí đi lên xuống, buồn bẳn buốt ống chân, ít hơi khó nói, tựn hiên độnhg phải sự không hợp ý thì công lên tim.

- Tác dụng phối hợp : Với Ủy trung trị mụn nhọt mới mọc, với Đại chùy, Phong môn (dùng bầu hút cũng được )chữa ho gà, với Can du, Tỳ du, Túc tam lý, Dương lăng tuyền trị viên gan truyền nhiễm, với Dương lăng tuyền, Chi câu trị bệnh Ngân tiết (Yên xi), với Nội quan trị nhịp tim không đều, Chí dương thấu Đảm du trị giun chui ống mật.

10. LINH ĐÀI :靈台

Cái đài linh thiêng

- Vị trí :  Khe lõm dưới mỏm gai đốt sống lưng thứ 6

- Cách châm cứu : Châm chếch lên sâu 0,5 – 1 thốn, cứu 3 mồi, hơ 10 – 20’

- Chủ trị : Hen xuyễn, viêm phế quản, đau lưng, đau dạ dày, mụn nhọt, giun chui ống mật, sốt rét, cảm mạo nóng rét, cột sống đau, gáy cứng đo, ho hen lâu ngày, tỳ nhiệt.

- Tác dụng phối hợp : Riêng châm Linh đài hoặc phối hợp với Dương lăng tuyền trị giun chui ống mật, với Đào đạo, Nội quan trị sốt rét cách nhật.

11. THẦN ĐẠO :神道

Con đường của thần khí

- Vị trí : Ở khe lõm dưới mỏm gai đốt sống lưng thứ 5

- Cách châm cứu : châm chếch lên sâu 0,5 -1  thốn, cứu 5 mồi, hơ 5 – 10’

- Chủ trị : Thần kinh suy nhược, đau lưng trên, ho hắng, đau thần kinh liên sườn, sốt rét, trẻ om kinh phong giật duỗi, bệnh nhiệt, bệnh tâm tạng, bệnh điên nhàn, thương hàn phát nhiệt, đau đầu nhiệt, tiến thoái vãng lai, hoảng hốt, buồn rầu hay quên, hồi hộp, ??? hàm răng trật ra, miệng há không ngậm lại được.

12. THÂN TRỤ :身柱

Cái cột của thân mình

- Vị trí : Ở chỗ lõm dưới mỏm gai đốt sống lưng thứ 3.

- Cách châm cứu : Mũi kim chếc lên, sâ 3 – 5 phân, cứu 3 mồi, hơ 5 – 10’

- Chủ trị : Vai và lưng trên đau, mụn nhọt, ho hắng, hen xuyễn, viêm phế quản, viêm phổi, lao phổi, bệnh tinh thần, bệnh thần kinh chức năng, ngực nóng, trúng gió không nói được, điên nhàn, giật duỗi, thắt lưng và cột sống cứng đau, giận muốn giết người, nói mơ hồ như thấy ma quỷ.

- Tác dụng phối hợp : Với Đại chùy, Phong môn trị ho gà, với Quan nguyên, Túc tam lý (cứu) trị bệhn còng gù, với Đại chùy, Phếdu  trị viêm phế quản mãn tính. « Nạn Kinh » nói : Trị 3 loại mạch Hồng, Trường, Phục phong giản, phát cuồng sợ ngườ ivà lửa cứu chùy 3 chùy 9.

13. ĐÀO ĐẠO :陶道

Con đường vui mừng

- Vị trí : Ở khe lõm dưới mỏm gai đốt sống lưng 1. Túc Thái dương và Đốc mạch hội ở đó.

- Cách châm cứu : Châm đứng kim, sâu 0,3 – 0,8 thốn, cứu 3 mồi, hơ 5 – 15’

- Chủ trị : Cột sống cứng, đầu đau, sốt cao, sốt rét, điên dại, tinh thần phân liệt, lao phổi, mọi cơ ở đầu gáy co rút, mồ hôi không ra, đầu nặng mắt hoa, giật duỗi, hoảng hốt, không vui.

- Tác dụng phối hợp : Với Đại chùy, Giản sử, Hậu khê trị sốt rét, với Giản sử, Nội quan, Khúc trì trị sốt rét, với Yêu kỳ, Nhân trung, Nội quan, Phong long trị điên nhàn, với Phế du trị phát sốt.

14. ĐẠI CHÙY : 大椎

Cái chùy to (Chùy là vật tròn như nắm đấm)

- Vị trí : Chỗ lõm trên đầu mỏm gai đốt sống 1. Thủ, Túc Tam dương và Đốc mạch hội ở đó.

- Cách châm cứu : Châm đứng kim sâu 0,5 – 1 thốn, cứu 5 – 7 mồi, hơ 5 – 15’

- Chủ trị : Cảm mạo, phát sốt, nôn mửa, lị, gáy cứng, đau cột sống, ho hắng, hen, trẻ em co giật, động kinh, sái cổ, mắt có hỏa bốc, ho gà, mất ngủ, say nắng, thần kinh phân liệt, điên nhàn, viêm phế quản, lao phổi, viêm khí thũng, viêm gan, bệnh huyết dịch, thấp chấn, bại liệt, vai và lưng trên đau, thương hàn sốt rất cao, hầu bại, phế chướng, sườn đau, cốt chưng triều nhiệt, sức yếu, răng cửa khô.

- Tác dụng phối hợp : Với Hợp cốc, Khúc trì trị cảm mạo, với Gian sử, Hậu khê trị sốt rét, với Trung phủ trị giãn phế quản gây xuất huyết, với Phong trì, Khúc trì trị cảm cúm, với Trung xuyên, Phong long trị chứng giảm bạch cầu, với Đào đạo, Nhị chùy hạ (Vô đam danh- dưới đốt sống lưng thứ 2), Thân trụ trị chứng tinh thần phân liệt, với Chí dương, Gian sử trị sốt rét, với Yêu du trị sốt rét.
Trọng Cảnh nói rằng : « Thái dương và Thiếu dương kiêm bệnh, cổ gáy cứng đau, hoặc hoa mắt chóng mặt, có khi như kết ở ngực, dưới tâm có hòn rắn, đáng đâm khe thứ nhất Đại chùy ».

15. Á MÔN : 啞門

Cửa của bệnh câm
Có tên là Thiệt yếm – Thiệt hoảnh – Ám môn

- Vị trí : Ở giữa phía sau gáy cổ vào chân tóc, từ chân tóc vào 5 phân (giữa đốt cổ 1 – 2). Đốc mạch và Dương duy mạch hội ở đó. CẤM CỨU, cứu ở đó làm cho người ta câm.

- Cách châm cứu : Nói chung với người lớn và gầy thì châm sâu độ 1,5 thốn, với người béo thì châm sâu độ 2 thốn, khi châm qua huyệt này cần chú ý góc độ hơi chúc xuống, hướng về phía đầu yết hầu của người bệnh, nghìn vạn lần không nên chếch lên, trong quá trình châm tiến từ từ không nên vê ngoáy, khi người bệnh có cảm giác tê như điện thì rút kim ngay, không được châm sâu thêm. Nếu như đã châm sâu khoảng 2 thốn mà không có cảm giác, cũng không được châm sâu thêm, đề phòng sự cố ngoài ý muốn. Nhất thiết tránh vê kim, không nâng ấn kim.

- Chủ trị : Câm điếc, Đau đầu, điên cuồng, bại liệt do não, bại não phát triển không đều khắp, bệnh thần kinh chức năng, bệnh thần kinh phân liệt, đau phía sau đầu, cứng gáy, chảy máu mũi, lưỡi chậm ra không nói, trúng gió, co giật, mọi thứ dương khí thịnh, đầu bị phong nặng mồ hôi không ra.

- Tác dụng phối hợp : Với Nhĩ môn, Thính cung, Ngoại quan, Trung chữ trị câm điếc, với Hưng phấn, Nhân trung, Túc tam lý trị di chứng ngu ngốc khi não bị chấn thương. Với Đại chùy, Cân súc, Yêu dương quan, Nhân trung, Hậu khê, Nhâm mạch trị uốn ván, với Nhân trung, Hậu khê, Phong long trị điên nhàn, với Đại chùy, Ế minh, Nội quan, Túc tam lý, Tích tam huyệt trị đại não phát triển không đều khắp, với Quan xung trị lưỡi chùng ra không nói, với Phong phủ trị cột sống gãy ngược lại.

16. PHONG PHỦ : 風府

Nơi chứa gió
Có tên là Thiệt bản

- Vị trí : Ở giữa mép tóc sau gáy lên 1 thốn, chỗ lõm dưới ụ lồi xương chẩm. Túc Thái dương mạch, Đốc mạch, Dương duy mạch hội ở đó. CẤM CỨU, cứu ở đó làm người ta mất tiếng.

- Cách châm cứu : Châm đứng kim, sâu 5 – 8 phân, ở trong vào sâu là tủy sống, không nên châm sâu. CẤM CỨU.

- Chủ trị : Cổ đầu, gáy, cứng đau, đầu váng, điên nhàn, tứ chi tê dại, cảm mạo, trúng gió, bệnh tinh thần, lưỡi hoãn không nói được, rét run ra mồ hôi, mình nặng sợ gió, phong một bên người, bán thân bất toại, mũi chảy máu cam, hầu họng sưng đau, thương hàn chạy cuồng muốn tự sát, mắt nhìn mơ hồ, trong đầu trăm thứ bệnh, mã hoàng, hoàng đản.

Ngược luận nói rằng : « Tà khách ở Phong phủ theo xương sống mà xuống, về khí một ngày đem đại hội ở Phong phủ, các ngày sau xuống 1 khớp, như thế là làm yên ». Mỗi lần đến Phong phủ thì lỗ chân lông mở ra, lỗ chân lông mở ra thì tà khí vào, tà khí vào thì làm bệnh. Lấy ngày đó làm khéo thâm « yên ». Ra ở Phong phủ, ngày xuống thêm 1 khớp, 21 ngày thì xuống đến xương dưới gầm, 26 ngày thì vào ở trong cột sống cho nên ngày làm thêm « yên » là thế (là làm chết, là đêm) ».

Ngày xưa Ngụy Vũ Đế nạn thương phong, gáy cấp Hoa Đà chữa ở đó được hiệu quả.

17. NÃO HỘ : 腦戶

Cái cửa của não
Có tên là Hợp lư

- Vị trí : Huyệt Phong phủ lên 1,5 thốn, bên trên ụ lồi xương chẩm, sau huyệt Cường gian 1,5 thốn, Túc thái dương và Đốc mạch hội ở đó. « Đồng Nhân » nói : CẤM CỨU, cứu làm cho người ta câm. « Tố Vấn » nói : Châm Não hội vào não là chết ngay.

- Cách châm cứu : Châm chếch 5 – 8 phân. CẤM CHÂM ĐỨNG, CẤM CỨU.

- Chủ trị : Đầu cổ cứng đau, đầu váng, điên giản, mất ngủ, mặt đỏ, mắt vàng, đầu nặng sưng đau, bướu cổ.

18. CƯỜNG GIAN : 强間

Chỗ khoảng cách cứng
Có tên là Đai vũ

- Vị trí : Huyệt Não hộ thẳng lên 1,5 thốn

- Cách châm cứu : Châm chếch 5 – 8 phân, cứu 3 mồi, hơ 5 – 20’

- Chủ trị : Đau đầu, cứng gáy, hoa mắt, nôn mửa, mất ngủ, điên nhàn, não xoay, chạy cuồng không nằm.

19. HẬU ĐỈNH : 后頂

Phía sau đỉnh đầu
Có tên là Giao xung

- Vị trí : Trước huyệt Cường gian 1,5 thốn, sau Bách hội 1,5 thốn

- Cách châm cứu : Châm chếch 5 – 8 phân, cứu 3 mồi, hơ 5 – 20’

- Chủ trị : Đau đầu, cứng gáy, đau phía sau đầu, choáng váng, đau một bên đầu, cảm mạo, mất ngủ, điên nhàn, mắt mờ mờ, trên trán sọ đau, ra mồ hôi ở khắp các khớp, chạy cuồng, giản phát co giật.

20. BÁCH HỘI :百會

Hội trăm mạch
Có tên là Nham thượng – Tam dương

- Vị trí : Ở chính giữa đầu. Khi ngồi ngay thẳng, lấy hai đầu chót tai thẳng lên gặp đường chính giữa đầu là huyệt. Hoặc lấy đoạn từ trên Ấn đường 1 thốn, vòng qua giữa đỉnh đầu sang mép tóc sau gáy chia làm đôi, điểm chính giữa đoạn ấy là huyệt. Thủ, Túc tam dương và Đốc mạch hội ở đấy.

- Cách châm cứu : Châm dưới da, ngang kim từ phía trước ra phía sau hoặc sang trái, sang phải, sâu 0,5 – 1 thốn. Cứu 5 mồi, hơ 5 – 15’.

- Chủ trị : Đau đầu, choáng váng, động kinh, lòi dom, phát sốt, cổ cứng, mũi chảy máu, câm điếc, trẻ em ỉa chảy, đẻ xong mất ngủ, sa dạ con, ngất xỉu, cao huyết áp, điên nhàn, cuồng đau đỉnh đầu, tai ù, tai điếc, mũi tắc, trúng gió, miệng cắn không mở, bán thân bất toại, trĩ, tiếng nói vỡ rít, tâm phiền muộn, hồi hộp hay quên, quên trước mất sau, tâm thần hoảng hốt, tâm vô lực, sốt rét lâu ngày, tâm phong, uốn ván, hay khó như dê kêu, mửa ra bọt, mồ hôi ra mà nôn, uống rượu đỏ mặt, nặng đầu, tắc mũi, trăm bệnh đều chữa.

- Tác dụng phối hợp : Với Hợp cốc, Thái xung trị đau đỉnh đầu, với Cưu vĩ trị lị, với Trường cường, Thừa sơn trị lòi dom, với Thái xung, Tam âm giao trị đau hầu họng, với Phong phủ, Đại chùy, Khúc trì trị dịch viêm màng não Nhật bản B (Ất hình), với Nội quan, Nhân trung trị choáng ngất, với Ấn đường, Thái dương, Hợp cốc trị đau đầu, với Khí hải, Duy bào, Túc tam lý trị sa dạ con, với Vĩ ế (Cưu vĩ), Trường cường trị thoát giang.

Quắc Thái Tử thi quyết, Biển Thước lấy tam dương, ngũ hội (chỉ) có một lúc (sau) Thái Tử tỉnh lại.
Đường Cao Tông đau đầu, Tần Minh Hạc nói rằng : « Nên chích Bách hội ra máu ». Võ Hậu nó : « Làm sao có được cái lý trên cao ở đầu mà ra máu ». Rồi đã chích ở đó, hơi ra máu, khỏi ngay.

21. TIỀN ĐÌNH : 前頂

Phía trước đỉnh đầu

- Vị trí : Ở phía trước huyệt Bách hội 1,5 thốn

- Cách châm cứu : Châm chếch 5 – 8 phân, cứu 3 mồi, hơ 5 – 20’

- Chủ trị : Đau đỉnh đầu, choáng váng, mặt mày sưng đỏ, thủy thũng, trẻ em kinh phong phát không giờ giấc, mũi nhiều nhử mũi xanh, đỉnh đầu sưng đau.

22. TÍN HỘI : 囟會

Chỗ gặp nhau của thóp

- Vị trí : Phía trước Bách hội 3 thốn, sau Thượng tinh lên 1 thốn, « Đồng Nhân » nói : Mới cứu, thì không đau, bệnh đi thì đau, đau thì đừng cứu, nếu là mũi tắc cứu đến 4 ngày thì tạm lui, 7 ngày thì khỏi ngay... Dưới 8 tuổi không thể châm, do cửa thóp chưa kín, châm ở đó thương ở xương làm cho người ta chết oan.

- Cách châm cứu : Châm chếch 5 – 8 phân, cứu 5 mồi, hơ 3 – 5’

- Chủ trị : Đâu đầu, choáng váng, mũi tắc, mũi chảy máu cam, trẻ em kinh phong, viêm mũi, mũi có thịt thừa (tức nhục), não hư lãnh hoặc uống rượu quá nhiều não đau như phá, chảy máu mũi, mặt đỏ bạo sưng, da đầu sưng, sinh bạch điến phong (hắc lào), hồi hộp, mắt ngước lên, không biết người.

23. THƯỢNG TINH :上星

Ngôi sao ở trên
Có tên là Thần đường

- Vị trí : Chính giữa trán lên đầu vào qua mép tóc 1 thốn, giữa chỗ lõm ấn vào thấy có thể chứa được 1 hạt đậu.

- Cách châm cứu : Châm dưới da, mũi kim chếch về phía đỉnh đầu, sâu khoảng 2 – 3 phân, cứu 3 mồi, hơ 5 – 10’

- Chủ trị : Đau đầu, đau mắt, tắc mũi, chảy máu mũi, viêm mxui, mũi có thịt thừa, viêm giác mạc, đầu phong, đầu mặt hư thũng, không thể nhìn xa, bệnh nhiệt mồ hôi không ra, điên tật, mặt sưng đỏ, mặt hư, sốt rét lâu ngày, rét run.

- Không nên cứu nhiều sợ lôi khí lên làm mắt nhìn không rõ.

- Tác dụng phối hợp : Với Hợp cốc trị đau đầu, với Nghinh hương trị bệnh mũi, với Tố liêu, Nghinh hương trị mũi ra máu, với Hợp cốc, Thái xung trị mũi có thịt thừa, viêm mũi, với Bách hội, Hợp cốc trị đầu phong, với Khâu khư, Hãm cốc trị sốt rét.

24. THẦN ĐÌNH : 神庭

Cung đỉnh của thần khí

- Vị trí : Chính giữa trán lên, vào qua mép tóc 5 phân, Túc Thái dương và Đốc mạch hội ở đó. « Đồng Nhân » : CẤM CHÂM, châm thì phát cuồng, mắt mất tròng.

- Cách châm cứu : Châm dưới da mũi kim chếch lên phía đỉnh đầu, sâu khoảng 2 – 3 phân, cứu 3 mồi, hơ 5’

- Chủ trị : Đau đầu, đau xương ụ máy, động kinh, choáng váng, viêm mũi, điên nhàn, bệnh thần kinh, trèo cao mà ca, vất áo mà chạy, uốn ván, thè lè lưỡi, mắt nhìn lên không biết người, mũi ra nhử xanh không dứt, mắt chảy nước mắt ra, hồi hộp không thể yên giấc, nôn mửa tức bứt rứt, nóng rét đau đầu, xuyễn khát.

- Tác dụng phối hợp : Với Thượng tin, Ấn đường, trị đau phía trước đầu.

Kỳ Bá nói rằng : « Phàm muốn chữa phong, không làm cứu nhiều. Bởi phong tính nhẹ, nhiều thì thương chỉ nên cứu 7 mồi, 7 x 3 thì dừng ». Trương Tử Hòa nói rằng : « Mắt sưng, mắt có màng châm Thần đỉnh, Thượng tinh, Tín hội, Tiền đỉnh, có thể làm cho màng lui ngay, có thể làm cho sưng tiêu ngay ».

25. TỐ LIÊU : 素髎

Cái lô chất bổ
Có tên là Diện chính

- Vị trí : Ở trên quả mũi, ở giữa đầu nhọn mũi « Ngoại đài ».

- Cách châm cứu : Mũi kim từ đầu mũi hơi chếch lên sâu 1 -2 phân, KHÔNG CỨU.

- Chủ trị : Mũi tắc, mũi chảy máu, mũi sần đỏ (tửu cổ tỵ, mũi giục rượu), choáng ngất, thấp huyết áp, tim đập quá chậm, mũi có trứng cá (tửu tre tỵ : mũi có bã rượu), viêm mũi, mũi nhiều nước, mọc mụn trong lỗ mũi, thở xuyễn không dễ, mũi méo trề ra.

- Tác dụng phối hợp : Với Nội quan, Bách hội, Nhân trung trị chứng ngất xỉu (ngất lịm như trúng gió, nhưng tim còn đập), với Nội quan, Túc tam lý trị chứng ngất lịn do trúng độc, với Hưng phấn, Nội quan trị tim đập quá chậm, huyết áp thấp, với Nghinh hương, Hợp cốc trị trứng cá ở mũi, với Thượng tinh, Nghinh hương trị mũi ra máu, với Nội quan, Dũng tuyền cứu sau khi bị điện giật.

26. NHÂN TRUNG- THỦY CÂU : 人中- 水溝

Rãnh nước

- Vị trí : Ở giữa rãnh môi mũi, điểm cách 1/3 trên và 2/3 dưới của rãnh Nhân trung. Đốc mạch và Thủ túc Dương minh hội ở đó.

- Cách châm cứu : Mũi kim chếch lên hoặc chếch xuống, sâu 2 – 3 phân, khi cấp cứu cứ cách một đếm vê 1 một hoặc châm thấu Nhân trung đến Ngận giao. KHÔNG CỨU.

- Chủ trị : Động kinh, hàm răng cắn chặt, trúng gió hư thoát, hôn mê, say nắng, chân tay co quắp, trẻ em co giật, bụng ngực cắn đau, choáng ngất, bệnh thần kinh chức năng, thần kinh phân liệt, say tàu xe, lưng đau do bong gân cấp tính, cùng mặt sưng phù, bệnh mũi, hôi mồm, cơ vùng miệng mắt co rút, miệng mắt méo lệch, mặt sưng môi động giống như giun bò, khát nước, phù thũng, điên cuồng, lời nói không biết sang hèn, chốc khóc, chốc mừng, hoàng đản mã hoàng, ôn dich, vàng khắp người, miệng méo trễ ra.

- Tác dụng phối hợp : với Ủy trung trị lưng và cột sống lưng đau đớn, với Hợp cốc, Trung xung trị say nắng và bất tỉnh nhân sự do trúng gió, với Ngận giao trị đau rút vùng thắt lưng (thiểm yêu cá khí), với Hội âm, trung xung trị chết đuối nước, với Nội quan, Dũng tuyền, Túc tam lý trị ngất xỉu do trúng độc, với Hợp cốc thấu Lao cung trị bệnh thần kinh chức năng, với Trường cường, Thủ Tam lý thấu Ôn lưu, huyệt Tọa cốt trị viêm khớp do phong thấp, với Thập tuyen, Dũng tuyền, Ủy trung trị say nắng, với Tiền đỉnh trị mặt thũng hư phủ.

27. ĐOÀI  ĐOAN : 兌端

Đúng đầu chót phương Tây, đúng chỗ đổi chác

- Vị trí : Chính giữa đầu chót môi trên

- Cách châm cứu : Châm chếch kim, sâu 2 – 3 phân, cứu 3 mồi

- Chủ trị : Điên tật, mửa nước bọt, đái vàng, lưỡi khô, tiêu khát, máu cam không dứt, môi sưng, răng đau, mũi tắc, đờm dãi, miệng ngậm hàm khua, mũi có thịt thừa, viêm vòm mồm, môi mép cứng.

28. NGẬN GIAO : 齦交

Chỗ răng lợi giáp nhau

- Vị trí : Ở phía trong môi trên, giữa chỗ lợi giao nhau trên răng chỗ dây chằng giữa phía trong môi trên. Nhâm mạch, Đốc mạch và Túc Dương minh hội ở đó.

- Cách châm cứu : Châm chếch kim, hướng lên dâu 1 – 2 phân, hoặc dùng kim 3 cạnh chích ra máu.

- Chủ trị : Lợi răng sưng đau, chảy máu, trĩ, cấp tính đau lưng do bong gân, mũi có thịt thừa, bệnh tinh thần, có mụn trong mũi, giữa trán và sống mũi đau, cổ gáy cứng, mắt ra nước mắt và nhử mắt, khóe mắt trong đỏ, ngứa đau và sinh màng trắng, mặt đỏ tâm phiền, mã hoàng hoàng đản, rét nóng ôn dịch, trẻ em mặt ghẻ mụn, lâu ngày không trừ, hơ nóng chấm điểm vào đó cũng khỏi.

- Tác dụng phối hợp : Với Trường cường trị trĩ.

Danh từ huyệt vị châm cứu - Phần 20: Nhâm Mạch

XIV.NHÂM MẠCH
(Kinh huyệt chủ trị)

- Nhâm mạch kinh huyệt ca:

Nhâm mạch tam bát khởi Hội âm,
Khúc cốt, Trung cực, Quan nguyên thoát,
Thạch quan, Khí hải, Âm giao nhưng,
Thần khuyết, Thủy phân, Hạ quản phối,
Kiến lý, Trung quản, Thượng quản tương liên,
Cự khuyết, Cưu vĩ, Tế cốt hạ
Trung đình, Chiên trung mạc Ngọc đường,
Tử cung, Hoa cái, Toàn cơ dạ,
Thiên đột, Kết hầu thị Liêm tuyền,
Thần hạ, Uyển ngẩn, Thừa tương xá.

Gồm 24 huyệt.

Kinh này không lấy Tỉnh, Vinh, Du, Hợp. Mạch này bắt đầu ở dưới Trung cực, đã lên bờ mép lông theo phía trong bụng lên Quan nguyen, đến hầu họng, thuộc cái bể của các Âm mạch, đem các mạch lạc của người ta đi vòng khắp các phần âm, thí dụ ở nước mà Nhâm mạch là nơi tổng hợp (hội) ở đó, cho nên gọi là Âm mạch chi hải. Dùng thuốc phải phân nam, nữ, kinh nguyệt thường chủ ở Xung Nhâm, là nhiệm任 gọi là Nhâm妊 (Nhâm là chửa). Nhưng thường người ta sống dưỡng ở gốc, giữ gìn ở nguồn, Đốc thì từ Hội âm mà đi lên lưng, Nhâm thì từ Hội âm mà đi lên bụng. Thân mình người ta có Nhâm, Đốc bởi Thiên, Địa có Tý Ngọ. Nhâm Đốc ở người ta lấy lưng bụng mà nói, Tý Ngọ của trời đất, lấy Nam Bắc mà nói, có thể chia ra, có thể hợp lại. Phân ra để thấy âm dương không lẫn lộn, hợp lại để thấy xét bà không có khoảng cách, một mà là hai, hai mà là một. Nhưng ở Tăng đạo không rõ mạch này, các chấp đều ở mức rất cao, cấm ăn, cấm đi, cấm nói, đứt mọi sự (so sánh). Ví dụ: đốt ngón tay, thiêu thân, ngồi kiết già mà chết, rất đáng buồn thay! (Vì) trong đó còn một việc là phân cứt, mà (cứ) đợi thần khí ngưng tụ. Có thứ thì Tinh vận Tam hóa ngũ khí, mà nửa xương cắt lông, thay đổi hầu hỏa khắp trời, có thứ thì ngày vận ở rốn, đêm vận ở Nê hoàn để luyện thể. Có thứ thì Hồ Cửu Linh đọc chú Tam tinh mà quy linh phủ. Có thứ thì dảo đầu Bính mà vận hóa cơ, có thứ mặc chầu Thượng đế, có thứ Phục khí nuốt ráng mây, có thứ bế thờ tồn thần, có thứ lấy huyệt Nhật tinh nguyệt hoa, có thứ thổ nạp đạo dẫn, có thứ đơn vận khí hành hỏa hầu, có thứ đầu thai đoạt xá, có thứ Bàng môn cửu phẩm tiện pháp tam thừa. Mỗi loại đều khác nhau (về cách), nhưng làm sao rồi Nhâm Đốc ra được.

Cái sự sáng tỏ về Nhâm Đốc đã giữ được thân. Cũng ví như vua sáng suốt có thể chăm dân để yêu nước, dân chết thì mất nước. Nhâm suy thì thân tàn. Đã là Thượng nhân triết sĩ hẳn trước tiên phải theo lời dặn ngày xưa, đạo dân các kinh, điều dưỡng thành thục, thì nhà Tiên có thể chắc nền móng, rồi sau đó quét trừ vọng niệm, lấy  Tĩnh Định làm cơ bản, mà thu cái nhìn về, nghe gần lại chứa ánh sáng mặc mặc, điều hơi thở êm êm, nắm vững giữ bên trong chú ý tới cái huyền, khoảnh khắc thì lửa phát trong nước, hoa nở trong tuyết, hai cái thận như đun sôi lên, bàng quang như lửa nóng Nhâm Đốc ví như cái xe lăn, tứ chi tựa như núi đá. Khoảng chừng như uống một ngụm nước, thiên cơ tự động, nhè nhẹ mà xoay, im lặng im lặng mà nâng, hơi hơi có ý yên định thì Kim Thủy tự nhiên trộn lẫn, Thủy Hỏa tự nhiên thăng giáng như cái gàu nước như hoa lúc ngưng sương, hốt nhiên một hạt to như lúa nếp rơi vào giữa Hoàng đình. Đây lấy duyên ném hồng (chỉ ném thủy ngân) thật mạt, người ta không thể coi thường, quét đi (những cái) đã chà đạp bên cạnh làm cong đường kinh, chỉ ra một cái đường lớn, làm cho người người có thể đi. Đến lúc đó, ý không thể tán, ý tán thì đan không thành. Tử Dương Chân Nhân nói rằng: ‘Hống đúng là sinh ở Ly, lại đi dùng ở Khảm, người con gái đẹp đi qua Nam viên tay giữ ngọc cảm lãm”. Chính là nói cái đó.

Hàng ngày làm không gián đoạn, không hại một cái tơ sợi tóc, luyện như thể một Khắc, thì một Khắc vòng khắp trời. Luyện được một giờ thì một giờ đã khắp trời. Luyện được một ngày thì một ngày đã khắp trời. Luyện được 100 ngày thì 100 ngày đó khắp trời. Gọi đó là Lập cơ. Luyện được 10 tháng, gọi đó là Thai tiên. Công phu đó đến đó thân tâm hỗn độn cùng với hư không, không biết thân đó là ta, ta đó là thân, cũng chẳng biết Thần đó là Khí, Khí đó là Thần, chẳng quy vafotrong mà tự quy vào trong, không thai tức mà tự thai tức, thủy không cần mà tự sinh, hỏa không cầu mà tự ra. Hư thất sinh trắng, đất đen dẫn Kim, không biết chỗ đã rồi mà đã rồi, cũng không biết Nhâm là Đốc, Đốc là Nhâm vậy. Đến mức lục hại không trừ, Thập thiếu không còn giữ, ngũ yếu không điều tuy là thường có bớt giảm cuối cùng là đạo lớn thì mệt mỏi.

- Như thế nào là Lục hại (Sáu cái hại) :

o Nhất viết : Bạc danh lợi - Coi nhẹ danh lợi.
o Nhị viết :         Cấm thanh sắc - -       Cấm tiếng hát và sắc đẹp
o Tam viết : Liêm hóa tài - Trong sạch về tiền của
o Tứ viết :         Tổn tư vị         - Giảm bớt chất béo bổ
o Ngũ viết :          Bình hư vọng         - Che những mong muốn đâu đâu
o Lục viết :           Trừ tật đố - Bỏ ghen ghét

Sáu cái đó (mà còn) có một (sẽ) còn xa con đường vệ sinh, mà (chưa thể) thấy có được. Tuy lòng (cầu) mong diệu lý, miệng niệm chân kinh, mồm nhai anh hoa, thở hít cảnh tượng, không thẻ bổ (thêm) cái đã mất.

- Thế nào gọi là Thập thiểu (Mười cái ít) :

o Nhất viết : Thiểu tư         - Ít lo nghĩ,
o Nhị viết :         Thiểu niệm - Ít nhắc nhớ,
o Tam viết : Thiểu tiếu - Ít cười,
o Tứ viết :         Thiểu ngôn - Ít nói
o Ngũ viết :          Thiểu ẩm - Ít uống rượu
o Lục viết :         Thiểu nộ         - Ít cáu giận
o Thất viết : Thiểu lạc         - Ít vui
o Bát viết :          Thiểu sầu - Ít rầu rĩ
o Cửu viết :          Thiểu hảo - Ít ham thích
o Thập viết :  Thiểu cơ         - Ít đói.

Phàm nghĩ nhiều thần tán,
Nhắc nhớ nhiều thì tâm lao,
Cười nhiều thì phế phủ thiên,
Nói nhiều thì khí huyết hư hao,
Uống (rượu) nhiều thì thương thần tổn thọ,
Cáu nhiều thì tấy lý bôn phù
Cười nhiều thì tâm thần tà đãng,
Rầu rĩ nhiều thì đầu diện tiêu khô,
Ham nhiều thì chí khí hội  (vỡ) tán,
Đói nhiều thì trí lự trầm mê.

Đây là những thứ tìm người để sống, rất là búa rìu, tính nó ăn người ta mạnh như lang sói. Người vệ sinh tránh cái đó vậy.

CÁCH TÌM ĐÚNG HUYỆT :

1. HỘI ÂM : 會陰

Chỗ gặp nhau của Tiền âm và Hậu âm
Có tên là Bình ế

- Vị trí : Ở giữa Tiền âm và Hậu âm, đàn ông thì lấy sau túi dái và trước lỗ đít, đàn bà thì lấy chỗ nối sau của môi lớn và lỗ đít. Chỗ đó bắt đầu của các mạch Nhâm, Đốc, Xung. Đốc từ Hội âm mà lên lưng, Nhâm từ Hội âm là lên bụng, Xung từ Hội âm mà đi theo Túc Thiếu âm.

- Cách châm cứu : Châm đứng kim, sâu 0,5 – 1 thốn, cứu 3 – 5 mồi, hơ 10 – 20’

- Chủ trị : Trĩ, viêm âm đạo, viêm niệu đạo, đau dương vật, kinh nguyệt không đều, sa dạ con, viêm tiền liệt tuyến, âm hộ có mồ hôi, mọi thứ bệnh trong âm hộ, tiền âm, hậu âm cùng lẫn đâu, không thể đái ỉa được, con trai ở quy đầu lạnh xông lên tim, trong khiếu nóng, da đau đớn, ngứa gãi trong lỗ đít, trĩ lâu ngày thông nhau, con gái kinh nguyệt không thông, cửa mình sưng đau. Tự nhiên chết, châm 1 thốn, bổ ở đó. Rơi chìm xuống nước tắc thở (chết đuối), đảo người dốc ngược lên, cho ra nước, châm bổ ở đó, nước đái và phân ra được thì sống, ngoài ra thì không nên châm.

2. KHÚC CỐT :曲骨

Xương sống

- Vị trí : Ở đường chính giữa bụng, phía bờ trên xương mu thẳng rốn xuống. Túc Quyết âm và Nhâm mạch hội ở đó.

- Cách châm cứu : Châm đứng kim, sâu 1 – 2 thốn, cứu 5 mồi, hơ 5 – 15’. Người chửa CẤM CHÂM.

- Chủ trị : Đái dầm, khó đái, liệt dương, di tinh, nhiều khí hư, dạ con co không đều khắp, sa dạ con, viêm bàng quang, viêm trứng dái, mất tinh, ngũ tạng hư nhược, hư yếu cực lạnh, quỷ sán, đau bụng dưới.

3. TRUNG CỰC :中極

Giữa nhất, rất giữa
Có tên là Ngọc tuyền, Khí nguyên
Huyệt Mộ của Bàng quang

- Vị trí : Từ rốn xuống đến bờ trên xương mu chia làm 5 thốn, lấy từ rốn xuống 4 thốn, Khúc cốt lên 1 thốn, là Mộ huyệt của Bàng quang, Túc tam âm và Nhâm mạch hội ở đó. Người chửa CẤM CHÂM.

- Cách châm cứu : Châm đứng kim, sâu 0,8 – 1 thốn, cảm giác tê tức cục bộ, có khi lan truyền đến bộ máy sinh dụng, cứu 5 mồi, hơ 5 – 10’

- Chủ trị : Di tinh, liệt dương, xuất tinh sớm, đái dầm, đau cắn dưới rốn, ỉa ra máu, lị, kinh nguyệt không đều và huyết kết thành hòn, khí hư, hành kinh đau bụng, tắt kinh, băng lậu huyết, căng bọng đái, đàn bà không có chửa, viêm thận, viêm niệu đạo, xiêm xoang chậu, đau thần kinh tọa, ngứa âm bộ mà nóng, đau âm bộ, thủy thũng, đái lâu hoặc không đái được, khí lạnh tích tụ có khi xông lên tâm, trong bụng nóng, dưới rốn kết thành hòn cục, bôn đồ đâm lên tim, âm bộ ra mồ hôi, tuyệt tự, sán hà, đàn bà sau khi đẻ nước hôi không ra, cổ dạ con sưng đau, và không thẳng ngay, hoảng hốt thi quyết, đói mà không ăn được, đang hành kinh mà giao hợp rồi gầy mòn đi, nóng rét, xoay bọng đái không đái được.

- Tác dụng phối hợp : Với Tam âm giao trị trẻ em đái dầm, với Quan nguyên, Tam âm giao trị si tinh, với Tử cung trị dạ con xuất huyết, Trung cực thấu Khúc  cốt,Thủy tuyền, Thủy phân, Tam âm giao thấu Huyền chung, Phục lưu trịb ệhn tim do phong thấp dẫn đến bụng có nước, với Hoành cốt, Âm lăng tuyền trị di tinh, liệt dương, xuất tinh sớm, với Âm lăng tuyền, Tam âm giao trị đái dầm, với Tử cung, Tam âm giao, trị kinh nguyệt không đều, với Thận du, Hợp cốc, Tam âm giao trị bế kinh.

4. QUAN NGUYÊN :關元

Có quan hệ với nguyên khí
Huyệt Mộ của Tiểu trường

- Vị trí : Ở phía dưới rốn, thẳng giữa rốn xuống thốn, từ huyệt Trung cực lên 1 thốn, là Mộ của tiểu trường, túc tam am và Nhâm mạch hội ở đó. Người chưa CẤM CHÂM.

- Cách châm cứu : Châm đứng kim, sâu 0,8 – 1,5 thốn, cứu 7 mồi, hơ 5 – 15’.

- Chủ trị : Đau lưng, đau bụng, đau quanh rốn, đái dầm, di tinh, liệt dương, ỉa chảy, kinh nguyệt không đều, băng lậu huyết, choáng váng sau đẻ, trúng gió hư thoát, ung nhọt trong ruột, lị, viêm ống dái, viêm thận, đau bụng hành kinh, khí hư quá nhiều, xiêm xoang chậu, sa dạ con, giun đường ruột, trúng gió hư thoát, suy nhược toàn thân, bế kinh, không có chửa, bạo sán, đái ra máu, ỉa ra máu, sốt về chiều, ho ra máu, tiêu khát, tích lạnh hư yếu, dưới rốn cắn đau dẫn vào trong âm bộ, làm bệnh không có giờ giấc, khí lạnh kết thành hòn đau, khí hàn vào trong bụng đau, đái trắng đục, phong choáng váng đầu đau, xoay bọng đái bế tắc, đái không thông mà vàng đỏ, lao nhiệt, sỏi bàng quang và 5 thú đái buốt, dễ ỉa, dưới rốn kết huyết như cái chén úp, tuyệt tự không sinh đẻ, cửa dạ con bế tắc, có thai ra máu nhỏ giọt, sau khi đẻ nước hôi không dứt.

- Tác dụng phối hợp : Với Tam âm giao trị di tinh, với Túc tam lý trị 5 thứ lậu, với Khí hải, Dũng tuyền trị bí đái sau đẻ, với Âm bạch, Huyết hải, Túc tam lý trị công năng tính tử cung cuất huyết, với Thái xung trị giun đũa, với Túc tam lý, Tam âm giao, Quan nguyên thấu Khúc cốt trị di tinh, liệt dương, với Âm lăng tuyền, Tam âm giao trị viêm ống dái, với Ủy dương trị căng bọng đái, với Đại chùy, Túc tam lý trị còng gù, với Đại đôn trị trứng dái sa một bên, với Dũng tuyền trị xoay bàng quang lậu khí (Khí lâm).

5. THẠCH MÔN :石門

Cửa đá
Có tên là Lợi cơ – Tinh lộ - Đan điền – Mệnh môn.
Huyệt Mộ của Tam tiêu

- Vị trí : Từ giữa rốn thẳng xuống 2 thốn, nằm ngửa lấy huyệt, là Mộ của Tam tiêu. Người chửa CẤM CHÂM.

- Cách châm cứu : Châm đứng kim sâu 1 – 1,5 thốn, cứu 3 mồi, hơ 5 – 15’

- Chủ trị : Kinh nguyệt quá nhiều, bế kinh, sán khí, bí đái, đái dầm, phù thũng, cao huyết áp, băng lậu huyết, viêm tuyến vú, thương hàn, ỉa dễ không cầm, bụng dưới cắn đau, bìu dái co vào bụng dưới, bụng đau rắn cứng, tự nhiên sán quanh rốn (đau co thắt), khí lâm, huyết lâm, nước đái vàng, nôn mửa ra máu không ăn được chất bột, cốc không hóa, thủy khí hành ở da dẻ, da bụng dưới căng căng, tức hơi, đàn bà do đẻ mà ra nước hôi không dứt, kết thành cục.

- Tác dụng phối hợp : Với Trung cực, Dương lăng tuyền trị đái dầm.

6. KHÍ HẢI:氣海

Bể chưa khí
Có tên là Bột anh – Hạ hoang

- Vị trí : Nằm ngửa đo từ giữa rốn xuống 1,5 thốn, con trai cái bế sinh ra khí ở đó. Người chửa CẤM CHÂM.

- Cách châm cứu : Châm đứng kim sâu 0,8 – 1,5 thốn, cứu 7 mồi, hơ 5 – 15’

- Chủ trị : Đau bụng, tảng sáng ỉa chảy, đau lưng, đái dầm, di tinh, kinh nguyệt không đều, băng lậu huyết, hành kinh đau bụng, tắc kinh, sau khi đẻ choáng váng xây xẩm, trúng gió hư thoát, thần kinh suy nhược, ruột tê bại, đái láu nhiều lần, căng bọng đái, liệt dương, ra khí hư trắng đỏ, không có chửa, sán khí ở bụng dưới, say nắng, thương hàn, uống nước quá nhiều, bụng chướng sưng, khí xuyễn đau dưới tim, bệnh lãnh (lạnh) mà mặt đỏ, tạng hư khí bại, chân khí bất túc, các loại bệnh khí lây ngày không khỏi, cơ thể gày mòn, tứ chi sức yếu quyết lạnh, bảy loại sán ở tiểu trước, bàng quang, thận, trưng hà kết thành hòn giống như cái chén úp, bụng chướng nhanh, ẩn ở đó không xuống, âm chứng co trứng dái, ỉa không thông, nước đái đỏ, tự nhiên đau tim, đàn bà hành kinh rồi giao hợp mà gày mòn, sau đẻ ra nước hôi không dứt, đau quanh rốn và háng.

- Tác dụng phối hợp : Với Tam âm giao trị đái trắng đục, di tinh, với Hành gian, Trung cực trị đau bụng hành kinh, với Huyết hải, Tam âm giao trị kinh nguyệt không đều, với Trung cực, Tam âm giao trị đau bụng hành kinh, với Duy bào, Tam âm giao trị sa dạ con, với Chi câ, Túc tam lý, Đại trường du trị tắc ruột do ruột tê bại liệt nhu động, với Mệnh môn, Yêu du trị đái tháo, chứng đái ồ ạt, với Ủy trung trị khí hư.

Phối Giang Trịnh Nghĩa Tông nạn khí hư xây xẩm té ngã, mắt nhìn ngước lên, đái ra và ra mồ hôi, mạch to, đó là âm chứng dương bạo tuyệt, bị mắc bệnh rồi mà còn tửu sắc, Đan Khê làm cứu Khí Hải mà tỉnh dần (lại), cho uống mấy miếng cao Nhân sâm mà khỏi.

7. ÂM GIAO :陰交

Chỗ âm khí giao nhau
Có tên là Hoành hộ

- Vị trí : Ở thẳng giữa rốn xuống 1 thốn, là Mộ của Tam tiêu, Nhâm mạch, Xung mạch và Túc Thiếu âm hội ở đó. Người chửa CẤM CHÂM.

- Cách châm cứu : Châm đứng kim sâu 1,5 thốn, cứu 5 mồi, hơ 10 – 20’

- Chủ trị : Viêm niệu đạo, viêm màng trong dạ con, kinh nguyệt không đều, đẻ xong đau bụng, sản dịch không dứt, đau sán khí, băng lậu huyết, khí hư, thủy thũng, sa dạ con, khí đau như dao cắt, bụng chặn lại rắn đau dẫn xuống trong âm bộ không thể đái được, hòn dái co lên cao, âm bộ ra mồ hôi ẩm ngứa, thắt lưng và đầu gối cong co, nóng dưới rốn, quỷ bẳn, mũi ra máu, kinh nguyệt ra máu kéo dài (rong kinh), chung quanh rốn lạnh đau, tuyệt tự, trẻ em lõm thóp thở.

8. THẦN KHUYẾT :神闕

Đào bới sâu mới nguồn của thần. Cửa trước của cung điện nhà thần
Có tên là Khí xá.

- Vị trí : Ở chính giữa rốn, CẤM CHÂM. Châm ở đó làm cho trong rốn người ta có mụn ác vỡ, phân ra mà chết.

- Cách cứu : Dùng phép cứu cách muối, cứu 5 – 15 mồi hoặc hơn nữa. Lấy muối ăn sạch bỏ đầy lỗ rốn, đặt mồi ngải lên trên để cứu, nếu rốn lồi thì đắp muốn xung quanh rộng của vành muối chừng hơn 1 cm cao bằng núm lồi của rốn, rồi đặt mồi ngải lên rốn cứu.

- Chủ trị : Sôi bụng, ỉa chảy, đau bụng, lị, trúng gió hư thoát, choáng váng xây xẩm sau khi đẻ, cấp mãn tính viêm ruột, lị cấp, mãn tính, lao ruột, dính ruột mà choáng, phù thũng, lòi dom, say nắng bất tỉnh nhân dự, sôi ruột ỉa chảy, ỉa dễ không cầm, cang hắc loạn, trong bụng hư lạnh, thương bại tạng phủ, thủy thũng cổ chướng, ruột kêu giống như tiếng nước chảy, đau bụng vòng quanh rốn, phong giản, uốn ván.

- Tác dụng phối hợp : với Quan Nguyên, Tam âm giao, Khí hải trị trúng gió hư thoát, với Thiên khu, Thượng quản, Nội quan, Túc tam lý trị cấp tính viêm đường ruột, với Thiên khu (cứu) Đại trường du (cứu) trị mãn tính viêm ruột, với Bách hội (cứu) Quan nguyên (cứu) trị hư thoát, với Thủy phân, Khí hải trị đau vòng quang rốn.

Từ Bình Trọng trúng gió bất tỉnh, Đào Nguyên Hạ làm cứu giữ giữa rốn 100 mồi bắt đầu tỉnh, không dậy được lại cứu 100 mồi nữa thì khỏi.

9. THỦY PHÂN :水分

Chia nước
Có tên là Phân thủy

- Vị trí : Giữa rốn thẳng lên 1 thốn, huyệt đúng miệng dưới của tiểu trường, đến đấy là (nơi) phân biệt trong đục, nước dịch thì vào bàng quang, cặn bã thì vào Đại trường, cho nên gọi là Thủy phân. « Tố Chú » : châm 1 thốn. « Đồng Nhân » nói : Châm 8 phân lưu 3 hơi thở ra, tả 5 hơi hít vào. Bệnh thủy cứu đại hay ... ??..., CẤM CHÂM, châm ở đó nước hết thì chết. « Minh Đường » bệnh về thủy thì cứu 7 x 7 = 49 mồi, đủ 400 mồi thì dừng ; « Tư Sinh » nói : không châm vì là thế.

- Cách châm cứu : Châm đứng kim sâu 1,5 thốn, cứu 3 – 15 mồi, hơ 10 – 20’. Người chửa 5 tháng trở lên CẤM CHÂM.

- Chủ trị : Khó tiểu tiện, phù nước, sôi ruột, ỉa chảy, nôn mửa, viêm thận, bụng rắn sưng như cái trống, viêm phúc mạc, chuột rút, không hám ăn, trường vị hư chướng, đau xung quanh rốn xông lên tim, thắt lưng và cột sống cứng cấp, quỷ bẳn, mũi ra máu, trẻ em lõm thóp.

10. HẠ QUẢN :下脘

Phía dưới dạ dày

- Vị trí : Chính giữa rốn thẳng lên 2 thốn. Nhâm mạch và Túc Thái âm hội ở đó. Người chửa trên 5 tháng CẤM CHÂM.

- Cách châm cứu : Châm đứng kim, sâu 1 – 1,5 thốn, cứ 3 – 15 mồi, hơ 10 – 20’

- Chủ trị : Tiêu hóa không tốt, đau dạ dày, sa dạ dày, ỉa chảy, viêm ruột, dưới rốn có quyết khí động, bụng rắn cứng, dạ chướng gầy mòn, bụng đau, khí ở 6 phủ hàn, cốc không chuyển hóa, không hám ăn, đái đỏ, có hòn báng liền với trên rốn quyết khí động phiên vị.

11. KIẾN LÝ :建里

Xây dựng ở bên trong, làm nên ở bên trong

- Vị trí : Chính giữa rốn lên 3 thốn

- Cách châm cứu : Châm đứng kim, sâu 1,5 thốn, cứu 3 – 15 mồi, hơ 10 – 20’. Người chửa trên 5 tháng CẤM CHÂM.

- Chủ trị :  Đau dạ dày, nôn mửa, tiêu hóa kém, thủy thũng, viêm phúc mạc, viêm dạ dày cấp mãn tính, tim cắn đau, sôi ruột, đau bụng, bụng chướng, mình sưng, khí lên, không ham ăn.

12. TRUNG QUẢN :中脘

Ở giữa dạ dày
Có tên là Thái thương

- Vị trí : Chính giữa rốn thẳng lên 4 thốn ở giữa đoạn từ lõm ức xuống đến rốn, đó là Mộ của vị. Thủ Thiếu dương, Thái dương, Túc Dương minh và Nhâm mạch hội ở đó. « Nạn kinh » nói rằng : Phủ hội ở đó. « Sớ » nói rằng : bệnh phủ chữa ở đó.

- Cách châm cứu : Châm đứng kim, sâu 1 - 1,5 thốn, cứu 3 – 15 mồi, hơ 10 – 20’. Người chửa trên 5 tháng CẤM CHÂM.

- Chủ trị : Đau dạ dày, chướng bụng, nôn mửa, ợ chưa, ỉa chảy, lị, táo bón, mất ngủ, cao huyết áp, viêm dạ dày cấp mãn tính, loét dạ dày, sa dạ dày, cấp tính tắc ruột, bí ỉa, tiêu hóa không tốt, thần kinh suy nhược, bệnh tinh thần, phiên vị, ăn không hóa, ăn không ngon miệng, hư lao mửa ra máu, điên cuồng, vàng da, năm thứ cách khí, thở xuyễn không dứt, trúng ác (dọc), đau tỳ, hàn làm tích, tâm khí đau, phục lương (u dạ dày) dưới tâm như cái chép úp (bụng trên) bành trướng, trời làm thương hàn sốt không dứt, sốt rét ôn dịch (sốt cuối hạ), trước tiên là đau bụng, ỉa chảy, hoắc loạn, ỉa ra không tự biết, đau vùng bụng trên, mình lạnh không thể cúi ngửa, khí phát ra nghẹn.

- Tác dụng phối hợp : Với Thiên khu, Túc tam lý trị lị, với Túc tam lý trị đau bụng, với Vị thương, Túc tam lý trị sa dạ dày, với Lương môn, Thiên khu, Nội quan, Túc tam lý trị cấp tính thủng ở vết loét dạ dày, với Thiên khu, Nội quan, Khí hải tắc ruột cấp tính, với Chí dương, Đảm du, Trị hoàng đảm, với Nội quan, Lương khâu trị đau dạ dày, với Khí hải, Chiên trung trị mửa (Hành), với Kỳ môn, Thượng cự hư trị thở xuyễn.

13. THƯỢNG QUẢN :上脘

Phía trên dạ dày
Có tên là Vị uyển

- Vị trí : Trên rốn 5 thốn, Thượng quản và Trung quản thuộc Vị, lạc sang Tỳ, Túc Dương minh, Thủ Thái dương, Nhâm mạch hội ở đó.

- Cách châm cứu : Châm đứng kim, sâu 1,5 – 2 thốn, cứu 3 – 15 mồi, hơ 5 -15’

- Chủ trị : Viêm dạ dày, loét hành tá tràng, nôn mửa, chướng bụng, nấc, dẫn dạ dày, dạ dày co rút, nhiều bọt dãi, hoàng đản, trong bụng sôi kêu, ăn không hóa, bụng háng đau nhói, hoắc loạn thổ lợi, đau bụng, mình nóng, mồ hôi không ra, phiên vị nôn mửa ăn không xuống, bụng chướng khí tức, tim thổn thức, có khi nôn ra máu, nhiều đờm, mửa ra dãi, bôn đồn, phục lương, nhị trùng, tự nhiên đau tâm, phong giản, bệnh nhiệt, mã hoàng hoàng đản, tích tụ rắn cứng như cái châu, hư lao mửa ra máu, 5 thứ độc, ỉa chảy không ăn được.

- Tác dụng phối hợp : Với nội quan, Công tôn trị bí môn co rút, với Nội quan, Thủ, Túc Tam lý trị viêm dạ dày cấp tính, với Trung quản, trị đau dạ dày.

« Tố Chú » ghi : Châm 8 phân, trước bổ sau tả, Phong giản nhiệt bệnh, trước tả sau bổ, khỏi ngay.

14. CỰ KHUYẾT :巨闕

Cửa khuyết rất to, chỗ đào bới rất lớn

- Vị trí : Ở chính giữa rốn thẳng lên 6 thốn, dưới huyệt Cưu vĩ 1 thốn, là Mộ huyệt của Tâm.

- Cách châm cứu : Châm chếch mũi kim trở xuống sâu 0,3 – 0,5 thốn, cứu 5– 10 mồi, hơ 10 – 20’

- Chủ trị : Đau vùng tim ngực, nghẹn, điên cuồng, động kinh, bệnh tinh thần, điên nhàn, tim cắn đau, đau dạ dày, nôn mửa, co thắt cơ hoành, giun chui ống mật, viêm gan mãn tính, khí lên ho hắng, thổn thức, phiên vị, nói nhảm, cáu cuồng, vàng da, đau bụng trên do giun đũa, ngực tức mà ngắn hơi, lưng đau, nhiều loại đau tim, đau lạnh, trúng độc mèo quỷ, trong ngực có đàm ẩm, hoắc loạn bất tỉnh, hoảng hốt không dứt, thương hàn phiền tâm, hồ sán, phiền nhiệt, khí 5 ặng cùng khô, tự nhiên đau tim ngất, có chửa mà thai xông lên tim làm mê mệt bứt rứt, châm Cự khuyết hạ kim làm người ta tỉnh ngay không bứt rứt.

- Tác dụng phối hợp : Với Tâm du, Khích môn, Thông lý trị tim cắn đau, với Phong trì thấu Phong trì bên đối diện, Túc tam lý, Nộ iquan trị thần kinh phân liệt, với Đại chùy, Nhân trung, Yêu kỳ, Nội quan trị điên nhàn, với Thiên tỉnh, Tâm du trị tim hoảng hốt, với Tâm du trị phiền tâm.

15. CƯU VĨ :鳩尾

Đuôi chim bồ cầu
Có tên là Vĩ ế - Kiệt khao
Huyệt Lạc với Mạch Đốc

- Vị trí : Ở giữa rốn lên 7 thốn, ở mũi nhọn xương ức, dưới lõm ức 1 thốn, Nhâm mạch, biệt lạc nối với Đốc mạch ở đó. « Đồng Nhân » CẤM CỨU, cứu ở đó làm người ta ít tâm lực, (thầy thuốc) rất diệu tay mới châm, không tự nhiên (lại) châm lấy (đi) nhiều khí, làm cho người ra chết non.

- Cách châm cứu : Châm chếch mũi kim xuống sâu 0,5 – 1,5 thốn, KHÔNG CỨU.

- Chủ trị : Đau vùng tim ngực, chứng nghẹn, điên cuồng, động kinh, tim cắn đau, nấc, bệnh tinh thần, hen xuyễn, thở bôn (chạy), bệnh nhiệt, đau bên đầu dẫn vào khóe mắt, sặc xuyễn, hầu kêu, ngực tức ho nôn, hầu bại họng sưng, nước sền sệt cũng không xuống qua họng được, điên nhàn chạy cuồng, lời nói không (nghiêm) luật, trong tâm trí bứt rứt, không muốn nghe người nói, hay nhổ ra máu, tâm sợ hồi hộp, tinh thần hao tán, ít tuổi mà mệt mỏi vì phòng dục, ngắn hơi, ít hơi.

- Tác dụng phối hợp : Với Thần khuyết, Hậu khê trị điên cuồng động kinh.

16. TRUNG ĐÌNH :中庭

Cung đỉnh ở giữa

- Vị trí : Ở giữa ngực, ngang đầu khe sườn 5 – 6, tương đương Chiên trung xuống 1,6 thốn.

- Cách châm cứu : Châm chếch 3 – 5 phân, cứu 3 mồi, hơ 5 – 20’

- Chủ trị : Viêm phế quản, lao phổi, viêm mạc lồng ngực, nghẹn tắc ăn uống không xuống, nôn mửa ra thức ăn, trẻ em trớ sữa.

17. CHIÊN TRUNG :膻中

Giữa chỗ có mùi hoi sữa dê
Có tên là Nguyên kiến, Đản Trung
Huyện mộ của Tâm Bào

- Vị trí : Ở giữa đường nối 2 núm vú trên ngực, nằm ngửa mà chiếu ngang vào chính giữa đường trục Nhâm mạch, Túc Thái âm, Thiếu âm, Thủ Thái dương, Thiếu dương và Nhâm mạch hội ở đó.

« Nạn Kinh » nói rằng : Khí hội ở Chiên trung. « Sớ » nói rằng : Bệnh khí chữa ở đó, thẳng đó vào trong là Tâm bào và Tâm.

- Cách châm cứu : Châm mũi kim hướng lên hay hướng về 2 bên cạnh bầu vú, hoặc hướng xuống dưới, luồn kim sâu 0,5 – 1 thốn, cứu 5 mồi, hơ 5 – 10’

- Chủ trị : Ho hắng, hen xuyễn, sưng họng, nấc, sưng cổ, nôn mửa bọt, hen phế quản, viêm phế quản, đau ngực, viêm tuyến vú, ít sữa, đau thầ kinh liên sườn, khí lên ngắn hơi, nghẹn hơi, cách khí, hầu kêu, trong ngực như tắc, phế ung nhổ ra mủ.

- Tác dụng phối hợp : Với Thiế trạch, Nhũ căn trị ít sữa, với Nội quan, Tam âm giao trị đau tim, với Thiên đột thì trị ho, với Định xuyễn (hoặc Ngoại định xuyễn), Thiên đột, Nội quan trị hen phế quản, với Nhũ căn, Thiếu trạch, Túc tam lý trị nước sữa quá ít, với Hợp cốc, Khúc trì, trị viêm tuyến vú, với Thiên tỉnh trị ngực bại tim đau.

18. NGỌC ĐƯỜNG :玉堂

Ngôi nhà bằng ngọc
Có tên là Ngọc anh

- Vị trí : Từ huyệt Chiên trung lên 1,6 thốn, ngang hai đầu sường 3 – 4 vào giữa xương ức.

- Cách châm cứu : Châm chếch mũi kim, sâu 0,3 – 0,5 thốn, cứu 3 mồi, hơ 5 – 20’

- Chủ trị : Viêm phế quản, lao phổi, viêm mạc lồng ngực, nôn mửa, tắc đờm, phế khí, thũng, đau thần kinh liên sườn.

19. TỬ CUNG :紫宮

Cung điện màu đỏ tím

- Vị trí : Huyệt Chiên trung lên 3,2 thốn, ngang khe sườn 2 – 3

- Cách châm cứu : Châm chếch sau 3 – 5 phân, cứu 3 mồi, hơ 5 – 20’

- Chủ trị : Viêm phế quản, lao phổi, viêm mạc lồng ngực, giãn phế quản, hen xuyễn, ngực và xương ngực đau đớn, ăn không xuống, nốn ngược khí lên, tâm phiền, ho ngược lên mửa ra máu, nước bọt như keo trắng.

20. HOA CÁI :華蓋

Làm thành cái hoa, Cái hoa để làm nắp đậy

- Vị trí : Ở đường chính giữa ngực, giữa chỗ tiếp giáp phần  cán và thân xương ức, ngang đầu khe sườn 1 – 2

- Cách châm cứu : Châm chếch 3 – 5 phân, cứu 3 mồi, hơ 5 – 20’

- Chủ trị : Viêm hầu họng, nuốt chất sền sệt cũng không xuống, ho hen, đau ngực, viêm khí quản, đau thần kinh liên sườn, đằng hắng.

21. TOÀN CƠ :璇璣

Còn gọi là Tuyền Cơ
Viên ngọc đẹp mà không tròn

- Vị trí : Từ huyệt Thiên đột xuống 1 thốn, ở đường dọc chính giữa ngực

- Cách châm cứu : Châm chếch sâu 3 – 5 phân, cứu 3 mồi, hơ 5 – 15’

- Chủ trị : Đau tức sườn ngực, hầu họng sưng đau, ho nghịch khí lên, trẻ em trong hầu kêu, hen phế quản, viêm phế quản mãn tính, co thắt thực quản, co thắt bí môn, trong dạ dày có tích.

- Tác dụng phối hợp : Với Đại chùy, Giải xuyễn, trị hen xuyễn, với Thiên đột, Nội quan trị thực quản co thắt, với Khí Hải trị gầy mòn hen xuyễn.

22. THIÊN ĐỘT :天突

Xúc phạm tới trời
Có tên là Thiên cù

- Vị trí : Ở chỗ lõm trên xươgn ngực, ngang với bờ trên xương đòn ở hai bên, Âm duy mạch và Nhậm mạch hội ở đó. Nếu như châm kim thẳng đứng (với da mặt) không thấp tay (kim châm chếch) thì hại khí của ngũ tạng, làm thương nhân đoản thọ.

- Cách châm cứu : Châm chếch mũi kim trở vào phía trong cánh xươgn ức (xương  ức có hình cái dao găm, đoạn trên có hình cán sao, chỗ huyệt này là trên cùng của cán dao) sâu 0,5 – 1 thốn, cứu 3 mồi, hơ 5 – 10’.

- Chủ trị : Ho hắng dữ dội, hen phế quản, sưng họng, nấc, sưng cổ nôn mửa, viêm phế quả, tuyến giáp trạng sưng to, cơ hoành co thắt, co thắt thực quản, bệnh tật ở thanh đới, ho ra máu mủ, trong hầu như có tiếng gà nước, bạo câm, da mặt nóng, trong ngực khí vướng vướng, có mạch xanh kẹp hai bên lưỡi, dưới lưỡi cấp, tim và lưng cùng co kéo nhau mà đau, ngũ ế (5 thứ nghẹn), ngủ nhiều, lòng đố kỵ, hoàng đản.

- Tác dụng phối hợp : Với Chiếu hải, trị Mai hạch khí, với Chiên trung trị ho hắng, với Định xuyễn, Chiên trung, Phong long trị viêm phế quản, với Du phủ, Chiên trung, Trung phủ trị bệnh tim do phong thấp gây ra ho hắng, hem xuyễn, với Khúc trì, Định xuyễn, Hợp cốc trị viêm phế quản mãn tính, với Nội quan, Trung quản trị co thắt cơ hoành.

Hứa Thị nói rằng : « Huyệt đó một lần châm có 4 hiệu quả, phàm sau khi hạ kim rất lâu, trước hết là Tỳ nghiền thức ăn, thấy kim động là hiệu thứ nhất, Thứ là kim phá gốc bệnh trong bụng, làm ra tiếng kêu là hiệu quả thứ 2, rồi sau thấy chảy vào bàng quang là hiệu thứ 3, rồi sau thấy khí lưu hành vào khe lưng dưới lưng trên và thận đường là hiệu thứ 4 ».

23. LIÊM TUYỀN :廉泉

Con suối trong sạch
Có tên là Thiệt bản

- Vị trí : Chỗ lõm phía trên kết hầu, dưới xương lưỡi, Âm duy mạch và Nhâm mạch hội ở đó.

- Cách châm cứu : Ngửa đầu lấy huyệt, châm mũi kim hướng về phía huyệt Não hộ sâu 3 – 5 phân có thể tới 1 – 1,5 thốn.

- Chủ trị : Sưng lưỡi, đau dưới lưỡi, trúng gió cứng lưỡi không nói được, nuốt xuống họng khó khăn, viêm phế quản, viêm hầu họng, viêm amidan, mất tiếng, cơ lưỡi tê bại, thở xuyễn, nôn ra nước bọt, lưỡi trùng vươn ra, mồm có mụn.

- Tác dụng phối hợp : Với Trung xung trị dưới lưỡi sưng đau.

24. THỪA TƯƠNG :承漿

Chịu nhận nước tương
Có tên là Huyền tương

- Vị trí : Ở giữa chỗ lõm giữa rãnh dưới môi, mạch Nhâm và mạch Đốc, mạch Vị, mạch Đại trường hội ở đó.

- Cách châm cứu : Châm đứng kim, sâu 2 – 3 phân, cứu 3 mồi, hơ 5 – 10’

- Chủ trị : Cổ cứng, động kinh, đau răng, méo miệng, chảy dãi, tê bại thần kinh mặt, trúng gió liệt nửa người, vòm mồm lở lóet, có cam trùng, mặt sưng phù, tiêu khát, bạo câm không nói được.

- Tác dụng phối hợp : với Phong phủ trị cổ gáy cứng đau, với Địa thương trị môi miệng lở mụn, với Hòa liêu, Khiên chính, Phong trì trị liệt mặt, với Địa thương, Lệ đoài trị môi mép có mụn bọc nước, với Phong phủ trị đau đầu cứng gáy.



**************************