BẾ TINH, DƯỠNG KHÍ, TỒN THẦN

THANH TÂM, QUẢ DỤC

THỦ CHÂN, LUYỆN HÌNH

Showing posts with label Chấn thương. Show all posts
Showing posts with label Chấn thương. Show all posts

Kỹ thuật cơ bản băng bó các vết thương

Việc che kín vết thương,  không chỉ hạn chế vi khuẩn, vi trùng xâm nhập vào vết thương gây nhiễm trùng và góp phần vào việc làm vết thương mau lành mà băng vết thương còn có tác dụng cầm máu, giảm đau.

1. Mục đích

  • Che kín vết thương, hạn chế vi khuẩn, vi trùng xâm nhập vào vết thương gây nhiễm trùng và góp phần vào việc làm vết thương mau lành.
  • Băng vết thương còn có tác dụng cầm máu, giảm đau.

2. Nguyên tắc

Băng kín vết thương.
  • Băng đủ chặt, không để băng lỏng để gây chảy máu hoặc tuột băng trong quá trình vận chuyển. Không buộc chặt quá sẽ gây rối loạn tuần hoàn máu.
  • Không làm làm bẩn vết thương trong quá trình băng.
  • Băng sớm mất ít máu, giảm đau và tránh ô nhiểm vết thương.

Các loại băng:

  • Băng cá nhân
  • Băng cuộn: chiều dài 4 – 5m, rộng 6 – 8cm.
  • Băng tam giác: Là loại băng làm bằng vải mềm hình tam giác có đính thêm dải ở 3 góc, băng có kích thước đa dạng, dể sử dụng, thường có kích thước như sau: đáy tam giác 1m, chiều cao 0,5m, dải ở 3 góc.
  • Ưu điểm: Băng nhanh chóng, băng được nhiều dạng vết thương.
  • Nhược điểm: Băng cầm máu kém vì không có nhiều lớp vải ép vết thương như băng cuộn.
Một số kiểu băng cơ bản bằng băng cuộn và băng cá nhân:
Khi sử dụng băng cá nhân và băng cuộn có các kiểu băng như: Băng vòng trong, băng vòng xoắn, băng số 8, băng vòng xoắn có nếp gấp, băng kiểu đặc biệt.

1. Băng vòng xoắn

Băng vòng xoắn là đưa cuộn băng đi nhiều vòng từ dưới lên trên theo hình xoắn chiếc lò xo hoặc như hình con rắn quấn quanh thân cây.

Cách băng
  • Đặt đầu ngoài cuộn băng ở dưới vết thương (sau khi đã đặt gạc phủ kín miệng vết thương )tay trái quay đầu cuộn băng ,tay phải giữ cuộn băng ngửa lên trên .
  • Đặt 2-3 đầu tiên quấn đè lên nhau để giữ chặt đầu băng,cuộn nhiều cuộn băng từ dưới lên trên ,vòng băng sau đè lên khoảng 2/3 vòng băng trước cho đến khi vết thương được phủ kín .
  • Đầu cuối của băng được cố định cho thật chặt bằng cách dùng kim hoặc xẻ đôi đầu cuộn băng đó buộc chặt vừa phải ở phía đầu vết thương.
Ưu điểm: nhanh, đơn giản, dễ làm.

Nhược điểm: Không sử dụng rộng rải trên các bộ phận cơ thể, đăc biệt là bộ phận đầu, vai, bẹn…

Chú ý: Kiểu băng này thường được áp dụng ở đoạn chi trên ,chi dưới ,vùng ngực bụng .Các vòng băng phải quấn đều nhau và xiết tương đối chặt.

2. Băng số 8

Băng số 8 là kiểu băng đưa cuận băng vòng theo hình số 8 . Kiểu này phức tạp hơn nhưng rất phù hợp với những vết thương ở vùng vai, cẳng tay gót chân ,đùi ,cẳng chân…tùy theo vị trí băng mà đưa cuận băng theo hình số 8 to nhỏ khác nhau.

Cách băng
  • Băng kiểu số 8 ,băng 2-3 vòng đầu đè lên nhau để cố định đoạn đầu băng sau đó băng nhiều vòng quanh chi theo hình số 8, đường băng bắt chéo nhau mặt trước đoạn chi, băng liên tiếp từ dưới lên trên nhiều vòng số 8, vòng băng sau đè lên vòng băng trước 2/3 chiều ngang của băng.
  • Băng kín vết thương rồi buộc cố định đầu còn lại của cuận băng, kiểu băng này có thể áp dụng tốt ở tất cả các đoạn chi.
1.Băng trán (băng kiểu vành khăn)
  • Đưa cuộn băng đi theo vòng tròn từ trán ra sau gáy sao cho đường băng trán nhích dần từ trên xuống dưới và đường băng sau gáy nhích dần từ dưới lên trên, cứ như vậy cho tới khi kín vết thương thì cố định lại.

    2.Băng đầu

  • Buộc đầu ngoài của cuộn băng vào vai trái làm điểm tựa. Đưa cuộn băng vắt ngang qua đầu từ trái qua phải và làm một quai xoắn ở mang tai phải.
  • Đưa cuộn băng theo vòng trònquanh đầu, sau đó băng qua đầu từ phải sang trái và kế tiếp là từ trái sang phải, xoắn qua hai đầu băng ở bên mang tai, các đường băng nhích dần lên giữa và ra sau gáy.
  • Buộc đầu cuối cùng của cuộn băng với đầu ngoài của vai trái thành vòng vai mũ dưới cằm.
3. Băng một mắt
  • Băng cố định một vòng trên trán ( trên tai ), sau đó đưa cuộn băng đi một vòng bắt chéo qua mắt bị thương và đi qua dưới tai rồi tiếp tục một vòng quanh trán, một vòng qua mắt nhích dần lên, cứ như vậy đến khi nào kín vết thương thì cố định đường băng lại.
4. Băng vai nách
  • Băng một hoặc hai vòng đầu tiên cánh tay bị thương để cố định đầu băng.
  • Đưa cuộn băng đi theo hình số 8,hai vòng của số 8 luồn dưới 2 nách và bắt chéo ở vùng vai bị thương, buộc hoặc cài kim băng đầu cuối của đoạn băng.
5. Băng một bên ngực

Băng một vòng ngang ngực ,một vòng lên vai theo chiều hướng đi lên khi nào hết băng thì cố định đoạn cuối của băng lại.

6. Băng xuyên ngực
  • Đặt đường băng đầu tiên đi chéo từ dưới rốn lên vai trái, vòng ra sau lưng ,đầu băng để thừa một đoạn để buộc.
  • Băng theo kiểu vòng xoắn quanh ngực từ dưới lên trên, các vòng băng xiết tương đối chặt ,nhất là đối với các vết thương ngực hở.
  • Đường băng cuối cho vòng ra sau lưng ,vắt qua vai phải ,ra trước để buộc với đầu băng kia.
  • Khi có vết thương ngực hở ,máu và không khí phì ra ngoài qua miệng vết thương, phải khẩn trương tiến hành băng kín ,nhằm cứu sống tính mạng người bị thương
Thứ tự thao tác băng kín vết thương hở như sau:
  • Bộc lộ vết thương bằng cách vén áo hoặc cởi áo.
  • Đặt gạc vi khuẩn phủ kín vết thương ,đồng thời dùng lòng bàn tay ép chặt miếng gạc vào thành ngực cho màu và không khí không phì ra ngoài.
7. Băng đầu gối
  • Vòng băng đầu qua giữa gối ,các vòng băng sau đưa liên tiếp một vòng trên gối ,lại một vòng dướigối (cũng có thể băng đầu gối theo kiểu số 8 bắt chéo trước gối).
8. Băng cẳng chân
  • Băng 2 vòng đầu phía trên cổ chân cố định lên nhau để cố định đầu băng, sau đó đưa cuộn băng đi theo hình số 8, mặt băng cắt chéo nhau mặt trước cẳng chân, băng liên tiếp từ dưới lên trên nhiều vòng số 8 , số 8 sau đè lên số 8 trước . Dùng kim băng hoặc buộc cố định đầu cuối của cuộn băng.
9. Băng bụng
  • Tùy theo vết thương to hay nhỏ mà ta lấy tô hay chén chụp lên vết thương sau đó băng như băng đầu gối.
10. Băng bàn chân
  • Băng vòng tròn đầu tiên ở sát đầu ngón chân. Đưa cuộn băng đi theo hình số 8,vòng sau cổ chân và bắt chéo ở mu chân. Buộc hoặc cài kim băng ở đầu cuối cuộn băng.
Theo Khoemoingay.vn

Xử lý cầm máu các viết thương hở

Bất kỳ vết đứt thủng, gãy nào trên da hoặc cơ thể đều gọi là vết thương. Hầu hết các vết thương đều hở vết nứt ở da làm cơ thể mất máu và các chất khác, đồng thời mầm bệnh có thể xâm nhập gây nhiêm trùng. Vết thương kín cho phép máu chảy ra khỏi vòng tuần hoàn nhưng không chảy ra ngoài cơ thể – xuất huyết nội. Bản chất của vết thương xác định loại vết thương và cách chữa trị thích hợp.

Người sơ cấp cứu nên:

Hạn chế việc mất máu bằng cách nén lên vết thương và nâng phần bị thương lên.
Tiến hành các bước làm giảm thiểu cơn sốt gây nên do mất máu quá nhiều.
Bảo vệ vết thương tránh viêm nhiễm và kích thích chữa lành tự nhiên bằng cách băng bó vết thương.
Vì mầm bệnh hiện diện trong máu chảy ra nên lúc nào cũng phải chú ý giữ vệ sinh cho nạn nhân và bản thân bạn cẩn thận.

Đối với các trường hợp chảy máu ngoài

Cần đi găng tay khi xử trí, trách tiếp xúc trực tiếp với máu của nạn nhân. Nếu không có găng tay, cần dùng vải, gạc, quần áo sạch hoặc túi nylon để cách ly, tránh tiếp xúc trực tiếp khi sơ cứu.

Nên làm sạch vết thương nếu quá bẩn. Phải cầm máu tại chỗ càng nhanh càng tốt để hạn chế lượng máu của nạn nhân bị mất.

Cần theo dõi nạn nhân và chuyển ngay đến cơ sở y tế sau khi cầm máu.

Đối với các trường hợp chảy máu trong

Cần xác định nguyên nhân, hoàn cảnh bị thương tích nghi ngờ gây chảy máu trong. Phát hiện các dấu hiệu bất thường toàn thân của nạn nhân. Chống sốc cho nạn nhân và tìm mọi cách chuyển nạn nhân đến cơ sở y tế càng nhanh càng tốt.

Việc băng bó vết thương phần mềm chảy máu ngoài với mục đích bảo vệ và giữ sạch vết thương, tránh ô nhiễm từ bên ngoài, tránh cọ xát, va chạm, hạn chế mọi sự đau đớn cho nạn nhân; đồng thời phải cầm máu ngay vết thương. Nguyên tắc là dùng băng để băng kín và không bỏ sót vết thương, băng phải đủ chặt, không làm ô nhiễm vết thương do những sai sót kỹ thuật và nên băng càng sớm càng tốt.

Cần lưu ý đặt nạn nhân ở tư thế thoải mái và thuận tiện cho việc băng bó vết thương. Nên thao tác kỹ thuật sơ cứu ở phía trước hoặc phía bên của nạn nhân. Không được bôi thuốc, cồn trực tiếp vào vết thương hở đang chảy máu. Trước khi băng nên phủ một lớp gạc vô trùng hay gạc sạch và các nút buộc cố định băng không đè lên vết thương. Sau khi băng phải kiểm tra sự lưu thông của máu khoảng 10 phút một lần để bảo đảm máu có thể nuôi dưỡng phần cơ thể bị tổn thương ở dưới băng.

Nếu các tổn thương phần mềm không được xử trí kịp thời và đúng kỹ thuật sẽ có nguy cơ làm cho nạn nhân bị đau, sưng nề, hạn chế vận động, gây khó khăn trong sinh hoạt, dẫn đến hậu quả cứng khớp nếu kéo dài. Vết thương chảy máu nhiều nếu không được sơ cứu kịp thời có thể làm cho nạn nhân bị choáng và tử vong. Ngoài ra, nạn nhân cũng có thể bị nhiễm khuẩn tại chỗ vết thương và toàn thân.

Khi bị vết thương chảy máu, cần:

- Nâng cao phần bị thương lên 
- Dùng khǎn sạch (hoặc dùng tay nếu không có khǎn) ấn chặt ngay vào vết thương. Giữ chặt cho đến khi máu ngừng chảy, 
- Nếu máu chảy không cầm được khi ấn chặt vào vết thương, hoặc nếu nạn nhân đang mất nhiều máu: 
* Cứ ấn chặt vào vết thương 
* Giữ cho phần bị thương giơ cao lên, càng cao càng tốt 
* Buộc ga rô tay hoặc chân càng gần chỗ vết thương càng tốt. Xiết chặt vừa đủ làm máu cầm lại. Buộc ga rô bằng một cái khǎn 
 gấp lại hoặc dây lưng rộng, đừng bao giờ dùng một dây thừng mảnh, dây thép… 
* Chuyển ngay nạn nhân đến cơ sở y tế. 

Chú ý:

* Chỉ buộc ga rô ở chân hoặc tay nếu máu chảy nhiều và ấn chặt trực tiếp vào vết thương mà máu không thể cầm được, 
* Cứ 30' lại nới lỏng dây ga rô một lát để xem còn cần buộc ga rô nữa hay không và để cho máu lưu thông. 
* Nếu máu chảy nhiều hoặc bị thương nặng, để cao chân và đầu thấp để đề phòng sốc.
  
Cách xử trí chảy máu ở lòng bàn tay

Lòng bàn tay thường bị đứt khi dùng dao, kéo…cắt một vật nào đó hay khi bị té. Thường chảy máu trầm trọng vì bàn tay giàu máu nuôi. Có nhiều gân và thần kinh ở tay, nên vết thương ở lòng bàn tay có thể đi kèm mất vận động hay mất cảm giác ngón tay.

Xử trí chảy máu lòng bàn tay như thế nào?

Giúp đỡ nạn nhân ngồi hoặc nằm xuống.
Đè ép trực tiếp lên vết thương.

Nâng tay cao lên.

Nếu nạn nhân bị gặp nạn do té ngã, hãy chú ý nâng và giữ vững tay bị gãy và cổ tay trước khi nâng tay bệnh nhân lên.

1. Đặt miếng băng vô trùng hay gạc sạch vào lòng bàn tay nạn nhân và yêu cầu nạn nhân gấp chặt các ngón tay để giữ gạc chặt lại.
Băng sao cho các ngón tay siết vừa đủ chặt vào miếng gạc.
Không băng ngón cái.
Nếu có dị vật cắm vào vết thương, thì băng xung quanh dị vật, băng ở đáy của dị vật trong tư thế bàn tay để tự nhiên.
Nếu có tổn thương gân, các ngón tay không thể gấp chặt lại được, thì cũng băng vết thương ở tư thế bàn tay để tự nhiên.

2. Xử trí sốc: nếu cần thiết.
Hãy giữ ấm cho nạn nhân, cho nạn nhân nghỉ và trấn an nạn nhân. 

3. Nâng cẳng tay nạn nhân bằng cách dùng dây treo vòng qua cổ.
Đưa hoặc chuyển nạn nhân đến bệnh viện.

Các vết thương ở da đầu

Da dầu dược cung cấp máu nhiều, do dó khi bị thương, da đầu nứt ra tạo thành một lỗ lớn. Máu có thể chảy ra nhiều và thường làm cho vết thương trông có vẻ nghiêm trọng hơn thực tế. Tuy nhiên, bị thương ở da đầu có thể chỉ là biểu hiện một phần của thương tổn trầm trọng hơn như nứt sọ. Giám định nạn nhân cẩn thận, nhất là các nạn nhân lớn tuổi hay trong trường hợp nạn nhân bị thương ở đầu mà không biết do say rượu.

Cách chữa trị
 
Những điều nên làm :

Hạn chế sự mất máu. 
Đưa nạn nhân đi bệnh viện. 
Mang găng tay dùng một lần (nếu có thể), để thay băng da đầu. 
Nén mạnh trực tiếp lên băng đã vô trùng hoặc miếng gạc sạch. 
Rịt chắc vết thương, dùng băng hình tam giác. Nếu máu vẫn chảy, thử nén lại trên miệng gạc. Đặt nạn nhân còn tỉnh nằm xuống, đầu và vai hơi nâng lên. Nếu nạn nhân bất tỉnh, đặt họ ở tư thế dễ hồi sức. 
Đưa nạn nhân đến bệnh viện, vẫn để ở tư thế chữa trị. 
Dấu hiệu và triệu chứng của vỡ xương sọ, chấn động mạnh và chèn ép.

- Vết trầy xước ở hốc mắt
- Đau
- Chỗ sưng hoặc chỗ lõm ở xương sọ
- Dịch màu vàng rơm tiết ra từ cả hai tai.
- Nạn nhân ngày càng lơ mơ và không đáp ứng trong một khoảng thời gian.
- Nạn nhân có chậm trả lời những câu hỏi hay đáp ứng chậm với yêu cầu không?
- Nạn nhân có khó tập trung suy nghĩ không?

Chấn động :

- Da tái nhợt.
- Chóng mặt, mắt mờ và buồn nôn.
- Đau đầu, đau hết đầu hay một phần.
- Bất tỉnh.

Chèn ép:

- Nạn nhân ngày càng lơ mơ và không đáp ứng.
- Da đỏ và khô.
- Nói líu lưỡi, lúng túng.
- Mất cử động bán phần hoặc toàn phần, thường nửa người.
- Con ngươi một bên mở rộng hơn bên kia.
- Thở mạnh gây ồn, thường xuất hiện muộn.

Vết thương ở khớp nối

Mạch máu chạy bên trong khuỷu tay và đầu gối thì sát với da, do đó nếu bị đứt, chúng chảy máu rất nhiều. Nên nhớ là kỹ thuật nén động mạch dưới đây sẽ ngăn không cho máu chảy đến các phần thấp hơn của tay hoặc chân 

Cách chữa trị

Những điều nên làm:

Kiểm soát sự mất máu. 
Đưa nạn nhân đi bệnh viện. 
Đặt miếng gạc trên vết thương. Gập khớp lại càng chặt càng tốt. 
Giữ khớp gập lại thật chặt để nén lực lên miếng gạc, hãy nâng tay (hoặc chân) lên. Nạn nhân nên nằm xuống nếu thấy cần thiết. 
Đưa nạn nhân đến bệnh viện, để ở tư thế chữa trị. Thả lỏng không nén sau mỗi mười phút để máu lưu thông lại bình thường.


Xử lý chấn thương thông thường


Trong sinh hoạt hàng ngày có thể xảy ra các chấn thương ở cơ, gân và dây chằng. Do mức độ tổn thương nhẹ nên bệnh nhân có thể tự chăm sóc vết thương tại nhà.

Chấn thương cơ bắp có thể chia làm 3 mức độ khác nhau:

1. Giãn cơ: Là tổn thương cơ dạng nhẹ do dây chằng, gân, cơ bị kéo giãn, số lượng bó sợi cơ bị đứt là dưới 25%. Ngay lúc bị chấn thương, người bệnh thấy đau nhói ở vùng gân cơ, nhưng sau ít phút, cảm giác đau giảm đi và vùng bị tổn thương sẽ sưng nhẹ. Khi này, bệnh nhân phải ngừng hoạt động vì nếu tiếp tục vận động, máu sẽ tụ lại nhiều, không có lợi cho việc điều trị sau đó.

2. Rách cơ: Số cơ bị rách chiếm 25-75% bó sợi, xuất hiện vết bầm do các sợi cơ bị đứt nhiều hơn. Bệnh nhân có thể nghe tiếng "bựt" hay "rắc" ở ngay tại chỗ bị thương và có cảm giác đau dữ dội, buộc phải ngưng hoạt động hoàn toàn.

3. Đứt cơ: Số cơ bị rách chiếm trên 75% bó sợi, có khi đứt hoàn toàn và làm máu bầm tụ nhiều ngày sau đó, khớp sưng nhiều và trở nên lỏng lẻo. Bệnh nhân có thể bị trật khớp và hoàn toàn không hoạt động được.

Việc sơ cứu bao gồm 4 bước sau:

- Nghỉ ngơi: ngay sau khi bị chấn thương cần giữ vùng bị thương bằng nẹp cố định trong 1-3 ngày đầu.

- Chườm lạnh: Mục đích là để phòng ngừa biến chứng và không gây tụ máu hay chảy máu. Dùng túi đá ướp chườm lạnh ngay tại chỗ 10-15 phút, mỗi lần cách nhau khoảng 1 giờ, có thể lặp lại nhiều lần trong ngày trong 1-3 ngày đầu sau khi bị thương. Không nên chườm một lần quá lâu hoặc chườm lạnh trực tiếp vì da sẽ bị bỏng.

 - Kê cao vùng bị thương: Làm như thế sẽ giúp máu trở về tim tốt hơn; giảm sưng, đau và viêm. Đặc biệt có thể kê cao chân ở khoảng cách 10-15 cm trong 1-3 ngày đầu. Tuy nhiên, không nên kê cao quá so với tim.

- Băng ép: Mục đích là làm giảm chảy máu, sưng bầm và đau nhức. Có thể dùng băng chun quấn ép dưới vùng tổn thương, những vòng đầu phải quấn chặt, sau đó lỏng dần.

 Khi bị chấn thương, bệnh nhân có thể dùng thuốc giảm đau Tây Y hoặc Đông Y, nhưng tuyệt đối không nên xoa các loại dầu nóng. Có thể dùng loại thuốc mà các vận động viên được xịt khi bị chấn thương vì đó là một loại khí lạnh dễ bốc hơi, có công dụng giống như chườm lạnh.

Khi bị chấn thương, bệnh nhân tuyệt đối không được chườm nóng hoặc xoa bóp. Việc chườm nóng sẽ khiến cho máu chảy nhiều hơn, còn xoa bóp lại khiến các dây chằng bị xơ chai, mất đi độ đàn hồi sẽ làm chúng trở nên yếu hơn và dễ chấn thương trở lại khi có những cử động hơi mạnh.

Thông thường, nếu bị tổn thương nhẹ, bệnh nhân sẽ hoàn toàn phục hồi sau khi điều trị được 2-3 ngày. Nếu là các chấn thương nặng hoặc đã qua sơ cứu mà hoạt động vẫn còn đau nhiều hoặc khó khăn, bệnh nhân nên đến khám ở các bệnh việc chuyên khoa để được điều trị càng sớm càng tốt.