BẾ TINH, DƯỠNG KHÍ, TỒN THẦN

THANH TÂM, QUẢ DỤC

THỦ CHÂN, LUYỆN HÌNH

Showing posts with label Giới thiệu chung. Show all posts
Showing posts with label Giới thiệu chung. Show all posts

Đại Yên - Làng thuốc NAM chỉ còn là "Cổ Tích"

Cụ Quế chăm sóc vườn thuốc
LÀNG NGHỀ THUỐC NAM LÀNG ĐẠI YÊN, NGỌC HÀ 

Cách đây gần cả ngàn năm, làng Đại Yên Hà Nội đã nổi tiếng với nghề trồng cây, bốc thuốc Nam. Từ ngôi làng nhỏ bé nằm ở "ngoại ô" Hà Thành cổ, là thuốc, dược liệu được đưa đi khắp các chợ Hà thành…

Dân làng đã đi khắp các vùng miền, rừng núi để tìm cây, cỏ, lá thuốc Nam về chữa bệnh. Trong làn có những gia đình gần chục đời cha truyền con nối nghề này. 

Trong thần tích của Đại Yên còn ghi lại: Ngọc Hoa công chúa chính là Bà Tổ của nghề, là người đã đem thuốc Nam phổ biến cho dân làng. Sử làng còn chép rõ, vào thời nhà Lý thế kỉ XI, một cô gái tên là Trần Ngọc Tường mới 9 tuổi, nhưng đã rất giỏi chữa bệnh bằng các loại lá cây. Quân lính của Lý Thường Kiệt qua đây bị mắc bệnh nên cô đã chữa trị giúp và nhờ đó, quân ta đã đánh thắng giặc. Ngọc Tường được nhà vua triệu vào cung và phong làm Ngọc Hoa công chúa, nhưng vì nhớ mẹ nên cô đã quay trở lại làng Đại Bi (Đại Yên ngày nay) và truyền lại nghề thuốc cho dân.

Người xưa vẫn bảo nghề làm và bán thuốc nam chỉ hợp với đàn bà con gái bởi nó mát mẻ, nhẹ nhàng, có lẽ chính vì thế mà hiện nay người làm nghề ở làng đa phần là phụ nữ:  trên khắp các chợ Hà Nội ngày nay, ở đâu ta cũng có thể bắt gặp người phụ nữ Đại Yên với gánh hàng gồm đủ các loại lá cây, cỏ, dược liệu, thuốc nam và cả một số gia vị thường dùng trong bữa ăn hàng ngày…

Một điều thú vị là người Đại Yên không chữa bệnh theo cách bắt mạch và kê đơn như thường thấy ở các nhà thuốc Y học cổ truyền Việt Nam. Người khám bệnh chỉ lắng nghe khách hàng kể các triệu chứng, hỏi các biểu hiện của bệnh và dựa vào kinh nghiệm sẵn có để cho thuốc uống và kinh nghiệm bốc thuốc của người làng được ông bà cha mẹ truyền lại cho từ tấm bé. Các trò chơi của trẻ làng ngày trước là đố nhau các loại lá thuốc, thách nhau tìm các loại lá thuốc quanh làng, rồi đố nhau gọi tên. Chính nhờ những trò chơi tuổi thơ đã khắc sâu vào tâm thức những kinh nghiệm quý báu, nên thậm chí có những cụ bà dù nhắm mắt mà vẫn có thể nói được mình cầm loại lá gì, héo hay tươi và chữa được những bệnh gì…

Trước đây ở Đại Yên đất rộng, nên gia đình nào cũng có một vườn cây lá thuốc. Những thập niên 80 của thế kỷ XX, cả làng là vựa thuốc Đông dược cung cấp cho Viện Y học cổ truyền Việt Nam, Đại học Dược Hà Nội và hàng thuốc nam còn bày bán rộng khắp các chợ ở đồng bằng Bắc bộ.

Nay do quá trình đô thị hóa trong những năm gần đây đã “xúi” dân làng đua nhau bán đất cho người ngoài, những vườn cây lá thuốc xanh non dần bị thu hẹp và biến mất chỉ có các tòa nhà cao tầng ngày mọc lên càng nhiều. Người làng Đại Yên ngày nay chẳng còn mặn mà với cái nghề vất vả, cầu kỳ mà lại thu nhập thấy này bởi ngoài phố giờ có nhiều việc nhàn nhã mà thu nhập lại cao hơn. Cũng như bao nhiêu nghề thủ công truyền thống khác ở Hà Nội, nghề làm thuốc nam ở làng Đại Yên đang dần bị mai một, quên lãng.
 
Cho dù chẳng biết cái làng thuốc cả ngàn tuổi giữa thủ đô này sẽ tồn tại được bao lâu nữa, trước sự đô thị hóa, nhưng hơn 70 năm nay cụ Nguyễn Thị Quế vẫn tần tảo chăm bón cho mảnh vườn thuốc Nam gần như duy nhất còn lại trong làng Đại yên như “vườn thảo mộc” còn vương lại chốn trần gian.

Thời con gái, những bước chân gánh thuốc của cụ Quế đã in dấu trên khắp chốn Hà Thành, như phố Thuốc Bắc, Khâm Thiên, Cửa Nam, chợ Đồng Xuân… Rồi khi tuổi già đến cụ không còn đủ sức đi các chợ nữa thì cụ lại quay về chợ ngay tại cổng làng Đại Yên. 


Mảnh vườn thuốc của gia đình cụ là khu vườn xanh mát thoang thoảng hương thơm thanh khiết dễ chịu của dược liệu. Khu vườn có diện tích khoảng 400m2, với đủ các loại cây thuốc nam như hương nhu, mã đề, sài đất, lô hội, trinh nữ hoàng cung, lá mò, bưởi bung, lưỡi đồng, lá diễn…


Dù vất vả nhưng thu nhập của cụ Quế từ vườn trồng thuốc Nam chẳng được bao nhiêu, nhưng Cụ vẫn quyết tâm giữ nghề vì đây là công việc đã gắn bó với cụ cả đời và cũng là nghề truyền thống của gia đình.


Cụ Quế xót xa: Dọc con kênh chảy ven cổng của đình làng, nay chỉ còn sót lại 4 khu vườn nho nhỏ nằm chênh vênh bên những đống rác phế thải với vài ba hộ sống bằng nghề trồng thuốc và bốc thuốc nhưng những “mảnh hồn” lá thuốc Đại Yên không biết còn có thể vương vấn được bao nhiêu lâu nữa. Giờ muốn mua một số cây thuốc, phải nhờ con cháu về tận Canh, Diễn, Thanh Trì, nhưng cũng chẳng thấm vào đâu so với hơn 200 loại cây lá trước đây cả. 


Mỗi buổi chiều xưa, thuốc Nam thu hoạch từ các khu vườn của làng Đại Yên được bày bán ở một chợ cóc nhỏ ngay cạnh cổng làng, mỗi lần họp chợ người mua kẻ bán tấp nập. Bây giờ mỗi buổi chợ chỉ còn vài ba người bán hàng, khách mua cũng lèo tèo vài ba người.


Có ai biết được ngay trong lòng Hà Nội cũng có một làng thuốc nam đã gần ngàn năm tuổi. Những bà lang trồng thuốc Nam ở làng cổ Đại Yên như cụ Quế chính là những nghệ nhân đang nắm trong tay vốn văn hóa phi vật thể của cha ông truyền lại từ 1.000 năm qua. 


Làng thuốc nam Đại Yên đang mai một dần. Tới một ngày nào đó chúng ta chỉ còn nghe đến nghề trồng thuốc nam của làng Đại Yên như một câu chuyện "cổ tích"?

LỊCH SỬ Y HỌC CỒ TRUYỀN VIỆT NAM


Việt Nam ta đã có trên 4000 năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Trong nền Văn Minh Văn Lang và Văn Minh Ðại Việt những y lý và y thuật dựa trên nền tảng của sự kết hợp lý luận y học Phương Ðông (Ðông y) với các kinh nghiệm chữa bệnh của cộng đồng gồm 54 dân tộc Việt Nam, cùng với kinh nghiệm sử dụng các nguồn dược liệu, thảo dược phong phú của đất nước ta trong vùng nhiệt đới tạo thành một nền y học truyền thống, hay còn gọi là Y học cổ truyền Việt Nam.

1- Thời Kỳ Dựng Nước (Thời Kỳ Hùng Vương - 2900 năm Trước Công Nguyên):  Ở thời kỳ này y học tuy mới chỉ ở mức độ truyền miệng nhưng đã biết dùng thức ăn trị bệnh như ăn trầu cho ấm cơ thể, nhuộm răng để bảo vệ răng...

2- Thời Kỳ Đấu Tranh Giành Độc Lập Lần Thứ I (Năm 111 trước Công nguyên).
Do có sự giao lưu và tiếp thu nền y học Trung Quốc, các vị thuốc đã được đưa sang Trung Quốc như Trầm hương, Tê giác... và một số thầy thuốc Trung Quốc đã sang Việt Nam trị bệnh  như : Đổng Phụng, Lâm Thắng...

3- Thời kỳ Độc Lập Giữa Các Triều Đại Ngô, Đình, Lê, Lý, Trần, Hồ (năm 939-1406).
      +Thời Nhà Lý (1010-1224)
Đã có  Tổ chức Ty Thái Y chuyên chăm lo bảo vệ sức khỏe cho vua quan trong triều, có nhiều thầy thuốc chuyên nghiệp lo việc chữa bệnh cho nhân dân, phát triển việc tổ chức trồng thuốc...
Thời kỳ này phương pháp trị bệnh bằng tâm lý cũng đã phát triển như trường hợp Lương y Nguyễn Chí Thành dùng tâm lý trị liệu trị cho vua Lý Thần Tông khỏi bệnh.
     +Thời Nhà Trần (1225-1399)
Ty Lương Y được đổi thành Viện Thái Y từ năm 1362.
Đã bắt đầu có những sự quan tâm tới việc chữa trị cho nhân dân, đặc biệt phát thuốc cho nhân dân ở các vùng có dịch bệnh.
Tổ chức trồng và thu hái thuốc dùng cho quân đội và nhân dân.
Cũng chính trong thời kỳ này, các Danh Y của nền Y học cổ truyền Việt Nam cũng xuất hiện, như Nguyễn Bá Tĩnh (Tuệ Tĩnh) với tác phẩm Nam Dược Thần Hiệu, Hồng Nghĩa Giác Tư Y Thư , Chu Văn An với tác phẩm Y Học Yếu Giản Tập Chú Di Biên
      +Thời Nhà Hồ (1400-1406)
          Danh y thời này là Nguyễn Đại Năng với tác phẩm Châm Cứu Tiệp Hiệu Diễn Ca .

4- Thời Kỳ Đấu Tranh Giành Độc Lập Lần Thứ II (1407-1427)
Nhà Minh xâm lược cướp hết các sách vở, thuốc và đem các danh y Việt Nam về nước ... do đó Y học ở thời kỳ này đã không phát triển được.

5-Thời Kỳ Độc Lập Dưới Các Triều Đại Hậu Lê, Tây sơn, Nguyễn (1428-1876)
        +Thời Nhà Hậu Lê 1428-1788)
Bộ Luật Hồng Đức có đặt quy chế về nghề Y : trừng phạt thầy thuốc kém đạo đức, ban hành các quy chế pháp y khám án mạng tử thi...
Cấm phá thai, phổ biến phương pháp vệ sinh phòng dịch, luyện tập giữ gìn sức khỏe... Tác phẩm có Bảo Sinh Diên Thọ Toát Yếu của Đào Công Chính.
Ở triều đình có Thái Y Viện, ở các tỉnh có Tế Sinh Đường lo chữa bệnh cho nhân dân nhất là công tác chống dịch.
Mở các khóa thi tuyển lương y, tổ chức khoa giảng dạy ở Thái y viện, đặt các học chức ở phủ, huyện để dạy nghề thuốc. Soạn các tác phẩm : Y Học Nhập Môn Diễn Ca, Nhân Thân Phú... Thời gian này có nhiều danh y : Nguyễn Trực với tác phẩm Bảo Anh Lương Phương , Lê Hữu trác với tác phẩm Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh 28 tập 66 quyễn, Hoàng Đôn Hòa với tác phẩm Hoạt Nhân Toát Yếu bàn về tổ chức y tế quân đội.
       +Thời Tây Sơn (1788-1802)
Tổ chức được Cục Nam Dược nghiên cứu thuốc trị bệnh cho quân đội và nhân dân.
Tác phẩm : Liệu Dịch Phương Pháp Toàn Tập + Hộ Nhi Phương Pháp của Nguyễn Gia Phan, La Khê Phương Dược + Kim Ngọc Quyển của Nguyễn Quang Tuấn.
        +Thời Nhà Nguyễn (1802-1883)
Ở triều đình có Thái y viện, ở các tỉnh có Ty Lương y, có mở trường dậy thuốc ở Huế (1850).
Tác phẩm: Nam Dược Tập Nghiệm Quốc Âm của Nguyễn Quang Lương, Nam Thiên Đức Bảo Toàn của Lê Đức Huệ...
   
6-Thời Kỳ Pháp Xâm Lược (1884-1945)
Do thời kỳ này Tây Y du nhập vào Việt Nam, chế độ Pháp thuốc đã giải tán các tổ chức y tế thời nhà Nguyễn, loại Y Học Cổ Ttruyền Việt Nam ra khỏi tổ chức y tế bảo hộ, đưa nền y tế thực dân vào. thầy thuốc Y học cổ truyền Việt Nam chỉ còn hoạt động nhỏ lẻ trong dân gian.

7-Thời kỳ việt nam dân chủ cộng hòa (1945-1976)
Nhận thấy Y học cổ truyền Việt Nam có tính tích cực trong việc điều trị bệnh tật, nên đã cho phục hồi nền YHCT.
Chính phủ có chủ trương kết hợp Y Học Cổ Truyền Việt Nam & Y Học Hiện Đại để phục vụ việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được tốt hơn.
Ngày 10-12 - 1957  Hội Đông Y Việt Nam đã được thành lập và kể từ sau năm 1975 đến nay đã nhiều lần đổi tên: Hội Y Học Dân Tộc, Hội Y Học Cổ Truyền Dân Tộc, Hội Y Học Cổ Truyền, nay lấy lại tên cũ là Hội Đông y Việt Nam. Năm 1995 do hợp tác quốc tế Việt Nam thành viên của Hiệp Hội Châm Cứu Thế Giới nên Hội Đông y tách ra thêm Hội Châm Cứu Việt Nam và phổ biến các phương pháp trị bệnh không dùng thuốc.

Đến nay:
Đa số các phường xã đều có các phòng, tổ chẩn trị Y Học Cổ Truyền Việt Nam.
Hệ thống hóa các Lương Y vào các đoàn thể Hội Đông y, Hội Châm Cứu.
Thành lập các bộ môn giảng dạy YHCT tại các truờng trung học và đại học.
Đã có 1 học viện YHCT  và  2 Viện YHCT ở miền Nam và Bắc.
Dịch thuật, biên soạn nhiều loại sách Kinh Điển, sách chuyên đề, chuyên sâu phục vụ công tác nghiên  
cứu, giảng dạy

Nền Y học cổ truyền Việt Nam trải qua hàng nghìn năm lịch sử và nhiều thăm trầm và đã được văn bản hoá  từ năm 1010 (thời nhà Lý). Tới thế kỷ thứ 13, nhà bác học Chu Văn An đã nêu đường lối chữa bệnh chứ không dùng mê tín dị đoan. Thế kỷ 14, đại danh y Tuệ Tĩnh nghiên cứu cây, con thuốc Việt Nam để chữa bệnh (580 vị thuốc trong 3873 đơn thuốc cho 10 loại chuyên khoa trị bệnh). Thế kỷ 18 đại danh y Lê Hữu Trác với tên hiệu là Hải Thượng Lãn Ông đã biên soạn tập sách thuốc "Y TÔNG TÂM LỈNH" gồm 28 bộ có 66 tập sách  nói về y đức, vệ sinh phòng bệnh, y lý cơ bản, dược lý, bệnh lý, các đơn thuốc có công hiệu, bệnh án, một số trường hợp bệnh ...               
Trong nền Văn Minh Ðại Việt đã có 155 vị danh y với 497 tập tuyển sách y học cổ truyền dân tộc được viết bằng tiếng Hán và tiếng Nôm.

            Trong thế kỷ 20 các vị danh y Việt Nam cũng đã biên soạn trên 200 tập sách có giá trị về Đông y bằng tiếng Quốc ngữ.


            Nền y học dân gian của 54 dân tộc trong cộng đồng Việt Nam gắn liền với sự sinh sống từng vùng địa dư sinh thái và xã hội. Từng dân tộc trong quá trình tồn sinh và phát triển đều tích luỹ được những kinh nghiệm về sử dụng cây con thuốc có ở từng địa phương. 
            Y học cổ truyền Việt Nam với hệ thống lý luận chặt chẽ, với các phương pháp phòng và chữa bệnh có hiệu quả, đã phục vụ đắc lực cho việc giữ gìn và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân từ xưa tới nay. 
          Trong nhiều năm qua Ðảng và Nhà nước đã có nhiều Nghị quyết, Chỉ thị chỉ đạo ngành y tế phối hợp với các ngành, các tổ chức xã hội nghiên cứu kế thừa, bảo tồn và phát triển YDHCT, kết hợp YDHCT với YDHHÐ nhằm xây dựng nền Y Dược học Việt Nam hiện đại, khoa học, dân tộc và đại chúng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh vị lãnh tụ vĩ đại của chúng ta dù bận trăm công nghìn việc nhưng Người vẫn quan tâm chỉ đạo việc "kết hợp thuốc đông y với tây y". Nhà nước đã cho thành lập Hội Ðông y, Viện Ðông y, Viện Châm cứu. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị chỉ đạo cụ thể từng lĩnh vực từ thừa kế, nghiên cứu, phát triển dược liệu, đào tạo cán bộ YDHCT, khám chữa bệnh ...

 Hơn năm mươi năm qua, kiên trì thực hiện đường lối của Ðảng, ngành y tế đã đạt được một số thành tựu quan trọng:
- Ðã đưa YDHCT có vị trí trong việc chăm sóc sức khoẻ nhân dân; có hệ thống tổ chức từ trung ương đến các địa phương. Cả nước có 5 Viện nghiên cứu; 46 bệnh viện YHCT cấp tỉnh; có khoa hoặc tổ YHCT ở 80% viện, bệnh viện YHHÐ cấp quận, huyện; 30% trạm y tế xã có hoạt động khám chữa bệnh bằng YHCT; có trên 10.000 cơ sở YDHCT tư nhân.
- Ðã đào tạo được đội ngũ thầy thuốc YHCT và kết hợp YDHCT với YDHHÐ gồm 35 tiến sĩ; 100 thạc sĩ; 100 bác sĩ chuyên khoa cấp 2; 500 bác sĩ chuyên khoa cấp 1; 2000 bác sĩ y học cổ truyền; 5000 cán bộ trung học YDHCT.
- Tổ chức kế thừa được nhiều bài thuốc hay, cây thuốc quý của các lương y trên mọi miền đất nước. Nhiều địa phương như Lạng Sơn, Thanh Hoá, Sóc Trăng, Thái Nguyên,... đã sưu tầm và lưu lại hàng ngàn cây thuốc, bài thuốc kinh nghiệm của đồng bào các dân tộc ít người; tổ chức nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu kết hợp, từng bước phát huy được tiềm năng của YDHCT phục vụ cho sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân.
- Dược liệu nói chung và thuốc YHCT nói riêng đã có trong danh mục thuốc thiết yếu. Ðã điều tra khảo sát có 3850 loài thực vật được sử dụng làm thuốc thuộc 309 họ, trong đó đại đa số là cây mọc tư nhiên. Về động vật, có 406 loài thuộc 22 lớp, 6 ngành được sử dụng làm thuốc. Về khoáng vật, thống kê được 70 loại khoáng vật có ở Việt Nam được sử dụng làm thuốc.
Các cơ sở sản xuất thuốc YHCT ngày càng được nâng lên cả về chất lượng và số lượng. Hiện nay, cả nước có trên 450 cơ sở, xí nghiệp sản xuất, kinh doanh thuốc YHCT (Nhà nước, dân lập, tư nhân, cổ phần). Bộ Y tế đã cấp số đăng ký cho trên 2000 chế phẩm thuốc YHCT được sản xuất lưu hành trên thị trường. Thuốc YHCT đã đa dạng về chủng loại với giá cả phù hợp đáp ứng nhu cầu phòng và chữa bệnh của nhân dân. Thuốc YHCT Việt Nam đã được xuất khẩu sang nhiều nước như Cộng hoà Liên bang Nga, Cộng hoà Ucraina, Cu Ba, Lào, Thái Lan, Campuchia,...
- Hàng năm tuy số cơ sở YDHCT còn ít, nhưng số lượng bệnh nhân đến khám và điều trị ngày một nhiều. Có khoảng 30% số bệnh nhân trong cả nước được khám và điều trị bằng YHCT, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng còn nhiều khó khăn. YHCT đã góp phần thực hiện chính sách xã hội và công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.
- Công tác xã hội hoá về YDHCT cũng được đẩy mạnh. Ngành y tế đã phối hợp với Hội Ðông y tổ chức tuyên truyền và vận động nhân dân trồng, sử dụng những cây thuốc sẵn có ở địa phương, những bài thuốc đơn giản để tự phòng và chữa một số bệnh thông thường, không những đã góp phần tích cực thực hiện chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân mà còn góp phần thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo và cải thiện môi trường.
- Hợp tác quốc tế ngày càng mở rộng, uy tín của các phương pháp chữa bệnh của Y Học Cổ Truyền Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Hiện tại, Việt Nam có quan hệ hợp tác về YDHCT với hơn 40 nước.
      
    Nhìn lại chặng đường phát triển của nền Y học cổ truyền Việt Nam nói chung và nền YDHCT nói riêng từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhất là sau hơn mười lăm năm đổi mới, có thể khẳng định rằng sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân đã đạt được những thành tựu to lớn.