BẾ TINH, DƯỠNG KHÍ, TỒN THẦN

THANH TÂM, QUẢ DỤC

THỦ CHÂN, LUYỆN HÌNH

Showing posts with label Người Nam dùng thuốc NAM. Show all posts
Showing posts with label Người Nam dùng thuốc NAM. Show all posts

Hoạt chất trong cây cà gai leo làm âm tính virus viêm gan B

Theo nghiên cứu của Tiến sĩ Nguyễn Thị Bích Thu, Viện phó Viện dược liệu Trung ương, hoạt chất glycoalkaloid trong cà gai leo có tác dụng ức chế sự sao chép và làm âm tính virus viêm gan B, giảm phát triển xơ gan.
 
Viêm gan virus B là bệnh truyền nhiễm phổ biến, rất khó điều trị. Bệnh dễ gây xơ gan, xơ gan cổ trướng, ung thư gan và là nguyên nhân gây tử vong nhiều nhất trong các bệnh về gan mật. Thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho thấy, tại Việt Nam, tỷ lệ nhiễm virus viêm gan B chiếm 10-20% tổng dân số. Việc tiêm phòng vắc xin hiện được coi là biện pháp hữu hiệu để ngăn ngừa căn bệnh này.

Tuy nhiên, với những người đã mắc bệnh, nhất là viêm gan B mạn tính thể hoạt động, việc điều trị trở nên khó khăn vì phải dùng thuốc đặc hiệu. Những thuốc này thường rất đắt tiền, phải sử dụng kéo dài để duy trì sự ức chế siêu vi. Hiệu quả cũng chỉ đạt 30-40%, khi ngừng thuốc có thể tái phát bệnh, thường gây tác dụng phụ. Do vậy, việc tìm kiếm các thuốc mới là nhu cầu thiết yếu, nhất là các thuốc có nguồn gốc từ thực vật.

Nghiên cứu thuốc từ cà gai leo làm thuốc chống viêm và ức chế sự phát triển của xơ gan do Tiến sĩ Nguyễn Thị Bích Thu cùng cộng sự thực hiện cho thấy hoạt chất mới trong cây cà gai leo (tên khoa học là Solanum hainanense Hance Solanaceae), có tác dụng ức chế sự sao chép, làm âm tính virus viêm gan B, chống viêm gan. Hoạt chất này cũng ức chế mạnh sự phát triển xơ gan, chống oxy hóa của dạng chiết toàn phần và hoạt chất chính glycoalcaloid trên mô hình thực nghiệm sinh vật. Glycoalkaloid được thử nghiệm trên người bệnh tình nguyện, không có tác dụng phụ. Trong thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 2, kết quả điều trị trên bệnh nhân viêm gan B thể hoạt động cho thấy có tác dụng khả quan.

Ngoài nghiên cứu của Tiến sĩ Thu, Giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Văn Mùi, Nguyên Giám đốc kiêm Chủ nhiệm bộ môn Truyền nhiễm, bệnh viện Quân Y 103 cũng kết hợp với Viện Dược Liệu TW nghiên cứu những cây thuốc để điều trị viêm gan virus. Trên lâm sàng, cây cà gai leo cho tác dụng tốt nhất trên bệnh nhân viêm gan virus B mạn tính. Theo đó, các kết quả nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 3 đối với 90 bệnh nhân viêm gan B mạn hoạt động tại 3 cơ sở Viện Quân y 103, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Viện Quân y 354 đều cho kết quả tốt, phù hợp với kết quả thu được ở giai đoạn 2. Giai đoạn 3 cho thấy thuốc có tác dụng ức chế sự nhân lên của HBV sau hai tháng điều trị.

"Tính tới thời điểm hiện tại, cà gai leo là dược liệu được kiểm chứng lâm sàng kỹ lưỡng nhất trên bệnh nhân viêm gan virus mãn tính thể hoạt động. Kết quả cũng khả quan. Theo những thí nghiệm trên người bệnh viêm gan, đến 66,7% đã giảm các triệu chứng nhờ các tác dụng giúp giảm nhanh những triệu chứng như: vàng da, mệt mỏi, nước tiểu vàng, niêm mạc vàng, đau hạ sườn…", GS.TS Nguyễn Văn Mùi cho biết thêm.

Tuy nhiên, hoạt chất glycoalkaloid trong cà gai leo phát huy tác dụng hỗ trợ điều trị viêm gan B tôt nhất khi kết hợp với cây mật nhân (còn gọi bá bệnh hay mật nhơn, mật gấu). Các nhà khoa học nhận định cà gai leo và mật nhân có thể làm âm tính HBsAg và giảm nồng độ virus trong máu mạnh nhiều khả năng là do kích thích miễn dịch nội sinh của cơ thể (sản sinh các Cytokin giúp loại bỏ virus).

Nghiên cứu lâm sàng tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 trên 33 bệnh nhân viêm gan B mạn tính dùng chế phẩm Giải độc gan Tuệ Linh có thành phần là cao cà gai leo kết hợp cao cây mật nhân cho thấy sau 2 tháng sử dụng, 60,6% bệnh nhân đã giảm được nồng độ virus từ 100 đến 1 triệu lần. Ngoài ra, 6 bệnh nhân có nồng độ virus trong máu đã về dưới ngưỡng phát hiện và 37,5% bệnh nhân xuất hiện chuyển đảo huyết thanh HBeAg. Sau sáu tháng có 6,1% bệnh nhân có HBsAg âm tính.
 
Nguồn VNexpress
Phương Thảo


Quả Mơ - Vị thuốc sinh tân dịch

Mơ là một loại quả khá quen thuộc và được sử dụng nhiều trong đời sống hàng ngày. Sở dĩ loại quả này được sử dụng phổ biến như vậy là do nó có nhiều công dụng trong đời sống, sức khỏe của con người.
 
 Đông y gọi quả mơ là mai tử, vị chua, tính bình vào các kinh can, tỳ, phế, đại tràng. Hay dùng trong các bệnh đường hô hấp. Trong thịt quả mơ có nhiều vitamin C, axit citric, đường, v.v...

Quả mơ, hạt mơ, nước mơ, dầu mơ  đã từng là những loại thực phẩm truyền thống của nhiều dân tộc hoặc nhiều bộ lạc khác nhau, người Abkhasian ở Liên xô, Hunza ở Pakistan, bộ lạc Vilcabiumba ở Ecuador, một số bộ lạc ở Nigeria.  Ở nước ta, sản phẩm thông dụng nhất từ mơ là nước mơ và ô mai.  Trong quyển sách Hunza Health Secret, khi mô tả lối sống trường thọ, mạnh khoẻ và năng động của những người Hunza, tác giả Renee Taylor đã cho biết dân ở đây đã tìm thấy một nguồn chất béo thực vật rất quý trong hạt mơ. 

Năm 1951 phát hiện trong dịch hạt mơ (hạnh nhân) có acid pangamic tức là vitamin B15 có tác dụng kéo dài tuổi thọ, nên từ đó người ta cũng dùng mơ nhiều hơn. Năm 1968, từ quả mơ chiết được 1 chất chống trực khuẩn lao. 

Một số cách dùng và tác dụng của mơ:

- Nước mơ pha đường uống giải khát rất tốt, tăng sức bền bỉ, chống mỏi mệt, giảm khát nước. Dùng tốt cho người lao động sản xuất ở nơi có nhiệt độ cao như lò luyện thép, nấu thổi thủy tinh, giải khát giảm ra mồ hôi nên giảm mất nước và điện giải, đỡ uống nhiều nước làm loãng dịch vị gây rối loạn tiêu hóa, đỡ mỏi mệt, ăn ngon miệng, ít bị sút cân.

- Rượu mơ cũng có tác dụng tương tự, giúp ăn ngon, tăng lực, nhưng chỉ dùng vào bữa cơm.

- Răng đau nhức, quả mơ chín giã nát đắp vào răng

- Rượu thanh mai chữa phong thấp, nôn mửa, đau bụng, phòng cảm nắng nóng.

- Ô mai có trong các bài thuốc chữa bệnh về hô hấp, đại tiện ra máu, kinh nguyệt ra nhiều, tiêu chảy phân nát, viêm kết tràng, sa hậu môn, ra mồ hôi nhiều, tiểu tiện không tự chủ, bệnh tiểu đường, sỏi mật, viêm túi mật, v.v...

- Đau bụng giun: 300g ô mai, 3 cùi dìa đường sắc nước uống.

- Trúng phong, răng nghiến chặt, dùng ô mai đánh gió

- Giải say rượu - Mơ nấu với trà uống

- Làm đẹp da: Ở một số nước Châu Âu, Mỹ, dùng thịt quả mơ chế thành mặt nạ đắp da mặt đắp trước khi đi ngủ, làm mất nếp nhăn, da sẽ đẹp.

- Mụn cóc, hạt cơm trên da: Ô mai 30g ngâm nước muối 24g (bỏ hạt) ít giấm nghiền mịn đắp lên mụn cơm.


Trong quả mơ có một chất có tác dụng kháng vi trùng lao mycobacterium, tác dụng này có liên quan đến sự có mặt của acid citric và malic. Trong dung dịch mơ còn có Vitamin B15 với tỷ lệ khá cao, có tác dụng tốt trong việc chuyển hóa oxy trong tế bào, chống sự già nua của tế bào trong các nhóm bệnh về tim mạch, hô hấp, như nhồi máu cơ tim, xơ vữa động mạch, viêm hoặc xơ gan thời kỳ đầu.

Mơ còn chứa nhiều protein, các khoáng chất như canxi, phosphor, sắt... hơn nhiều loại trái cây khác. Mơ còn chứa beta-caroten. Bbeta-caroten sẽ chuyển hóa thành vitamin A trong cơ thể, giúp ngăn ngừa tác hại của các gốc tự do, bảo vệ mắt và có thể ngăn chặn ung thư da.

Theo y học hiện đại, mơ chứa các loại acid hữu cơ có tác dụng kháng khuẩn, làm co túi mật, thúc đẩy quá trình tiết mật.

Trái mơ ngâm rượu còn được gọi là mơ thanh mai, có thể chữa được các bệnh về dạ dày, nôn mửa, đau bụng, phong thấp, đau khớp xương, phòng cảm nắng, cảm nóng. Mơ muối sấy khô có màu sẫm được gọi là ô mai, là vị thuốc thường dùng trong điều trị lâm sàng của Đông y.

Ô mai mơ giúp chữa bệnh giun chui ống mất, chữa chai chân và bệnh trĩ. Dầu hạt mơ được dùng làm thuốc bổ, nhuận trường...

Hạt mơ điều trị chứng bệnh can khí uất kết, khó chịu trong ngực, dạ dày hoạt động kém.

Một chế phẩm từ mơ được biết đến nhiều nhất là mơ muối. Tại Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, mơ muối được dùng làm thức ăn cũng như dùng làm thuốc.

Mơ muối có tác dụng trị đầy bụng, ăn không tiêu, mệt mỏi, chán ăn, giải ngộ độc thức ăn, trị rối loạn dịch vị dạ dày, trung hòa các yếu tố âm trong người, giúp gan loại sạch các hóa chất nhân tạo ra ngoài cơ thể, chống lão hóa cơ thể...

 Mơ muối có thể duy trì trạng thái kiềm nhẹ (pH khoảng 7,35) trong máu nếu dùng đều đặn mỗi ngày. Chỉ cần 10g mơ muối có thể trung hòa lượng acid do 100g đường tạo ra, trong khi phải cần đến 60g rong biển, hay 239g đậu đỏ, hoặc 680g rễ ngưu bàng mới có thể trung hòa được hàm lượng acid này.
Acid citric trong mơ muối hỗ trợ và hoạt hóa chức năng của gan. Acid catechin trong mơ muối làm tăng nhu động ruột, có tác dụng sát khuẩn và giúp tiêu hóa protein.

Mơ muối lâu năm chuyên trị các bệnh về đường ruột và tiêu hóa, đầy bụng, ăn kém tiêu, mệt mỏi, chán ăn, ho, đờm, hen suyễn, khó thở, say sóng tàu xe, trị đau thắt cơ tim, làm cân bằng âm dương trong cơ thể, tăng sức sống cho cơ thể.

Có thể ăn mơ muối như thông thường hoặc ngâm vào nước nóng hay trà để uống. Có thể cho mơ muối vào cơm vắt để ăn giống cơm cuốn theo kiểu Nhật Bản nhằm điều trị một số bệnh như thặng dư acid ở dạ dày, rối loạn đường ruột, mệt mỏi, hoặc sau khi cơ thể thu nạp quá nhiều lượng thực phẩm có hại như đường, bia, rượu.

Nấu một quả mơ muối với khoảng 1 lít nước trong nửa giờ, có thể lọc và pha loãng thêm, dùng như một thức uống lạnh trong mùa hè để giải khát, hoặc dùng trong các trường hợp ăn không ngon miệng, táo bón, hơi thở hôi, trúng độc thức ăn, ngộ độc rượu, say sóng, cảm cúm.

Phụ nữ mang thai trong giai đoạn đầu có thể dùng một quả mơ muối vào bữa ăn hoặc uống nước ép mơ muối mỗi ngày sẽ giúp hạn chế tình trạng nôn ói.

Lưu ý: Quả mơ có vị chua, tính ấm, nếu ăn tươi nhiều sẽ hại răng, sinh đàm, tăng nhiệt. Do đó, người bị bệnh cảm, dạ dày nhiều acid, trẻ em bị lên đậu cấp tính cần kiêng ăn mơ tươi.


Một số bài thuốc chữa xơ gan cổ trướng

Trong dân gian từ trước đến nay đã có một quan niệm rất sai lầm về cổ trướng. Hễ thấy trong ổ bụng có nước là ngay lập tức họ coi đây là bệnh nan y vô phương cứu chữa. Nhiều người chấp nhận chết mà không chịu chữa trị.

Tuy nhiên, lương y Vũ Quốc Trung, một thầy thuốc lâu năm khẳng định XGCT hoàn toàn có thể chữa khỏi bằng thuốc Đông y. Ở Trung Quốc có những thống kê cho thấy nhiều lương y chữa khỏi tới hơn 90% những bệnh nhân bị XGCT. Theo ông, bệnh XGCT chữa được nhưng không phải bệnh nhân nào cũng khỏi hẳn bệnh. Thuốc nam có khả năng giúp gan phục hồi tốt chức năng điều tiết và giải độc.

Đối với những bệnh nhân bị viêm gan và đã biến chứng thành xơ gan cổ trướng, chúng tôi giới thiệu một số bài thuốc nổi tiếng của TRUNG Y chữa rất có hiệu quả:

Bài 1: "Tư bổ can thận cổ thang"

Thành phần: Sinh địa 10g, sơn dược 12g, sơn du nhục 15g, thạch hộc 30g, đan bì 9g, trạch tả 9g, bạch mao căn 15g, xa tiên tử 15g, vỏ quả bí đao 15g, đan sâm 30g, uất kim 10g.

Tất cả các vị trên đem sắc trong 60 phút, chắt bỏ bã lấy nước chia ra mấy lần uống hết trong ngày.

Chủ trị: Thích dụng đối với những bệnh nhân xơ gan cổ trướng có triệu chứng bụng trương to, nước tiểu ngắn, ít, người gầy gò, sốt nhẹ về chiều, ngũ tâm (chỉ 2 lòng bàn tay, 2 lòng bàn chân và vùng mỏ ác) phiền nhiệt, đổ máu mũi, đầu choáng váng, mất ngủ, chất lưỡi đỏ, mạch huyền tế sắc.

Bài 2: "Tiêu đàm hoạt huyết lợi đàm thang"

Thành phần: nhân trần 30g, kim tiền thảo 30g, đan sâm 30g, uất kim 10g, công lao diệp 30g, quất diệp 10g, sơn từ cô 10g, giáp chu 10g, xích thược 10g, đào nhân 10g, hồng hoa 60g, chi tử (quả dành dành) 10g, hoàng bá 30g, đan bì 10g.

Tất cả các vị trên sắc 40 phút, bỏ bã lấy nước, chia ra uống mấy lần trong ngày.

Chủ trị: Thích dụng đối với những bệnh nhân xơ gan cổ trướng do ứ mật sinh ra. Có triệu chứng bụng trướng đầy, nước tiểu ngắn, vàng, hoàng đản đậm, ở dưới sườn hoặc ở khoang dạ dày có u cục cứng rắn, phân trắng xám, rêu lưỡi vàng nhẫy, mạch hoạt.

Bài 3: "Lương huyết hành huyết chỉ huyết thang"

Thành phần: Tê giác 6g, sinh địa 10g, đan bì 10g, xích thược 10g, đương qui 10g, đại tiểu kế mỗi thứ 10g, hoàng cầm sao 30g, tiên hạc thảo 3g, tam thất sâm 6g, lá dâu 30g, đại hoàng 10g.

Trước hết nấu tê giác 60 phút, sau đó cho các vị trên và nước vào nấu 3o phút nữa, chắt bỏ bã, lấy nước, chia ra uống mấy lần hết trong ngày.

Chủ trị: Thích dụng với các bệnh nhân xơ cứng gan có triệu chứng tĩnh mạch ở thực đạo trương cong lên, nứt ra, chảy máu, nôn ra máu, hoặc đại tiện ra máu; những bệnh nhân nôn ra máu tươi đỏ hoặc tím đen, hoặc nôn ra má như tuôn ra, miệng đắng, sườn đau, bí đại tiện, hoặc phân màu đen, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng nhẫy, mạch hoạt sác hoặc huyền sác.

Bài 4: "Đại phúc thiên kim thán"

Thành phần: Nhân sâm 15g, phục linh 50g, bạch truật 25g, mộc hương 15g, xuyên phác 50g, quả cau 50g, hắc sửu 30g, bạch sửu 30g, hải táo 40g.

Tất cả những vị trên sắc lấy nước uống, chia 2 lần uống hết trong ngày.

Chủ trị: Xơ gan cổ trướng có hiện tượng báng ở bụng, thuộc tì hư thủy thốn.

Bài 5: "Thập táo thang"

Thành phần: Thục phụ tử 15g, nhục quế 15g, hắc sửu 15g, hạt cải trắng 15g, bạch sửu 15g, cam toại 15g, đại kích 15g, bạch truật 20g, a giao 20g, đại hoàng 20g, đảng sâm 30g, táo tàu 50g.

Tất cả các vị trên sắc lấy nước uống trong ngày.

Chủ trị: Xơ gan cổ trướng

Bài 6: " Kiện can nhuyễn kkieen thang"

Thành phần: Hoàng kỳ 25g, đảng sâm 20g, bạch truật, uất kim, sài hồ, khởi tử, mỗi thứ 10g, phục linh 15g, đương quy, sơn dược mỗi thứ 12g, xích thược 60g, đan sâm, mai ba ba, mỗi thứ 30g.

Tất cả các vị trên sắc lấy nước uống, ngày 1 tháng chia 2 lần uống hết trong ngày. Liệu trình 1 - 3 năm.

Chủ trị: Thích dụng đối với những bệnh nhân xơ cứng gan thời kỳ đầu. Các danh y tại một bệnh viện ở Trung Quốc đã dùng bài thuốc này điều trị cho 50 bệnh nhân, đã chữa khỏi hẳn 32 bệnh nhân, có hiệu quả rõ rệt 16 bệnh nhân, có chuyển biến tốt 6 bệnh nhân, không có hiệu quả 2 bệnh nhân, tỉ lệ hiệu quả là 96,4%.

Bài 7: "Hoàng kỳ đan sâm hoàng tinh thang"

Thành phần: Hoàng kỳ, đan sâm, mỗi thứ 20 - 30g, hoàng tinh, màng mề gà (nghiền thành bột pha ra uống). Bản lam căn, liên kiều, bại tương thảo, mỗi thứ 15 - 20 g, bạch truật, phục linh, uất kim, đương qui, nữ trinh tử mỗi thứ 12 - 15g, tử hà xa (đựng trong túi làm bằng giấy bột để nuốt) 2 - 5 g.

Mỗi ngày 1 thang, sắc 2 lần lấy nước chia 2 lần uống, hoặc đem nghiền tất cả thành bột, xong luyện với mật thành viên hoàn, mỗi viên 9g, mỗi lần uống 1 viên, ngày uống 3 lần.

Chủ trị: Thích dụng với các bệnh nhân xơ cứng gan, ở thời kỳ đầu. Tại 1 bệnh viện ở Trung Quốc, các danh y đã dùng bài thuốc này để chữa cho 105 bệnh nhân, trên lâm sàng, đã chữa khỏi 45 bệnh nhân, có hiệu quả rõ rệt 31 bệnh nhân, có hiệu quả 19 bệnh nhân, không có hiệu quả 10 bệnh nhân, tỉ lệ có hiệu quả chung là 90,48%.

Bài 8: "Hoạt huyết hóa ứ thang"

Thành phần: Tiểu sinh địa, tử đan sâm, mỗi thứ 15g, địa miết trùng, xích thược, đào nhân, mỗi thứ 12g, đương qui 10g.

Tất cả đem sắc lấy nước uống, ngày 1 tháng, uống liều trong 2 - 3 tháng.

Chủ trị: Xơ cứng gan sau khi bị viêm gan nặng.

Bs. Ngô Quang Thái

Tác dụng dược lý của CÂY NHÀU - Phần 2 - Một số bài thuốc từ cây Nhàu

Sau đây là tác dụng của cây nhàu.

* Chữa nhức đầu kinh niên, đau nửa đầu: Rễ nhàu 24g, hạt muồng trâu 12g, cối xay 12g, rau má 12g, củ gấu (sao, tẩm) 8g. Đổ nửa lít nước, sắc còn 250ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày, uống lúc thuốc còn nóng.

* Chữa đu lưng, nhức mỏi, tê bại: Rễ nhàu chặt nhỏ phơi khô, sao vàng (chừng 1/2 kg), ngâm với 2 lít rượu 450 trong vòng nửa tháng, trước bữa ăn uống một ly nhỏ.

* Chữa huyết áp cao: Rễ nhàu thái nhỏ phơi khô, mỗi lần 30 - 40g nấu đậm uống thay nước cả ngày. Sau một đợt uống từ 10 - 15 ngày, kiểm tra lại, nếu huyết áp giảm, bớt lượng rễ nhàu từ từ và uống liên tục trên 2 tháng, huyết áp sẽ ổn định.

* Chữa lỵ, tiêu chảy, cảm sốt: Lá nhàu tươi 3-5 lá tươi rửa sạch nấu
với nửa lít nước còn 200ml chia 2 lần uống/ngày. Uống liên tục 3-5 ngày.

* Chữa mất ngủ, suy nhược thần kinh, huyết áp cao: Rễ nhàu 24g, Thảo quyết minh (sao thơm) 12g, rau má 8g, Thổ phục linh 8g, vỏ bưởi 6g, gừng củ 3 lát. Đổ nửa lít nước, sắc còn 250ml. Chia làm 2 lần uống trong một ngày (uống nóng).

* Chữa rối loạn kinh nguyệt ở người cao huyết áp: Quả nhàu 20g, Ích mẫu 20g, Hương phụ (củ gấu) tẩm dấm sao 12g, Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.

* Chữa đau lưng, nhức mỏi chân tay: Quả nhàu già xắt lát mỏng 200g, ngâm với 2 lít rượu. Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 20 – 30ml.

* Chữa đau lưng do thận: Rễ nhàu 12g, rau ngót 8g, cối xay 8g, dây gùi 8g, ngó bần 8g, đậu săng 8g, tầm gửi cây dâu 8g, rễ ngà voi 8g, ngũ trảo 12g. Đổ nửa lít nước, sắc còn 250ml. Chia làm 2 lần uống trong 1 ngày (uống nóng).

* Chữa táo bón ở người cao huyết áp: Ăn quả nhàu với chút muối.

* Chữa đau nhức do phong thấp: Rễ cây nhàu 20g, dây đau xương 20g, củ Khúc khắc (Thổ phục linh) 20g, rễ cỏ xước 20g, cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.

Trong dân gian thường lấy quả nhàu gần chín rửa sạch, để ráo, xắt lát, trộn theo tỷ lệ 1kg nhàu với 2 lạng đường cát, sau 15 ngày ép lấy nước uống dần, mỗi bữa ăn chừng hai ly nhỏ, có tác dụng: Bồi bổ sức khỏe, điều hòa huyết áp, tăng cường khả năng miễn dịch, phục hồi các tế bào bị thương tổn suy yếu, chống viêm nhiễm, giảm đau nhức mệt mỏi cơ thể…

Lá nhàu non nấu canh với lươn, thịt bò bồi bổ cho người vừa lành bệnh, người bị suy nhược cơ thể rất hiệu quả, nhanh hồi phục sức khỏe.
 

* Loại bỏ độc tố: Tăng khả năng hấp thụ, tiêu hóa, sử dụng vitamin, thảo dược và khoáng chất. Có khả năng chống oxy hóa cao giúp ngăn chặn sự hủy hoại những gốc tự do.
* Giảm đau: Chữa những cơn đau trong cơ thể như đau lưng, cổ, đau cơ, thần kinh và những cơn đau như căng thẳng, đau nửa đầu.

* Hỗ trợ hệ miễn dịch: Kích thích việc sản xuất những tế bào T - tế bào đóng vai trò chủ chốt trong việc chống lại bệnh tật. Giúp đai thực bào và tế bào bạch huyết họat động mạnh. Có thể tấn công nhiều loại vi khuẩn, kiềm chế khả năng tiền ung thư và sự phát triển của khối ung thư bằng cách cho phép những tế bào khác thường hoạt động bình thường trở lại. 
* Chống viêm: Có tác dụng trong việc chữa các bệnh liên quan đến cơ và khớp như bệnh viêm khớp, hội chứng nhức xương cổ tay. Giảm đau và giảm sưng vết thương với triệu chứng như vết thâm tím, căng da và bỏng. Hiệu quả trong việc chữa trị vết loét, ngừa phát ban.

* Chữa đau lưng, nhức mỏi chân tay: Quả nhàu già xắt lát mỏng 200g, ngâm với 2 lít rượu. Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 20 – 30ml.

* Chữa đau nhức do phong thấp: Rễ cây nhàu 20g, dây đau xương 20g, củ Khúc khắc (Thổ phục linh) 20g, rễ cỏ xước 20g, cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày. * Chữa bệnh: Nhiều tài liệu khoa học đã cho thấy hữu ích của quả nhàu đối với dạ dày (bệnh tiêu chảy, ợ nóng, buồn nôn, viêm ruột kết, loét dạ dày), cơ quan sinh dục (những vần đề về kinh nguyệt, nhiễm nấm men), gan và lá lách (bệnh đái đường, tuyến tụy), hệ hô hấp (hen suyễn, viêm xoang, bệnh khí thủng), hệ thống nội tiết (bệnh tuyến giáp và tuyến thượng thân), hệ tim mạch (bệnh tim, huyết áp cao, đột quỵ), hệ thần kinh (stress, suy nhược cơ thể, trí nhớ, năng lượng),…

* Chữa huyết áp cao: Rễ nhàu thái nhỏ phơi khô, mỗi lần 30 - 40g nấu đậm uống thay nước cả ngày. Sau một đợt uống từ 10 - 15 ngày, kiểm tra lại, nếu huyết áp giảm, bớt lượng rễ nhàu từ từ và uống liên tục trên 2 tháng, huyết áp sẽ ổn định.

* Chữa lỵ, tiêu chảy, cảm sốt: Lá nhàu tươi 3-5 lá tươi rửa sạch nấu với nửa lít nước còn 200ml chia 2 lần uống/ngày. Uống liên tục 3-5 ngày.

* Chữa mất ngủ, suy nhược thần kinh, huyết áp cao: Rễ nhàu 24g, Thảo quyết minh (sao thơm) 12g, rau má 8g, Thổ phục linh 8g, vỏ bưởi 6g, gừng củ 3 lát. Đổ nửa lít nước, sắc còn 250ml. Chia làm 2 lần uống trong một ngày (uống nóng).

* Chữa rối loạn kinh nguyệt ở người cao huyết áp: Quả nhàu 20g, Ích mẫu 20g, Hương phụ (củ gấu) tẩm dấm sao 12g, Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.

* Chữa đau lưng do thận: Rễ nhàu 12g, rau ngót 8g, cối xay 8g, dây gùi 8g, ngó bần 8g, đậu săng 8g, tầm gửi cây dâu 8g, rễ ngà voi 8g, ngũ trảo 12g. Đổ nửa lít nước, sắc còn 250ml. Chia làm 2 lần uống trong 1 ngày (uống nóng).

* Chữa táo bón ở người cao huyết áp: Ăn quả nhàu với chút muối.

Ngoài cách sắc uống, còn có thể dùng theo các cách sau:

 
- Uống nước ép từ quả nhàu ngay khi bụng còn đói. Uống từng ngụm nhỏ, giữ trong lưỡi và ở cuống họng - điều này đặc biệt tốt đối với những người bị trầm cảm, stress, bị chấn thương…
- Dùng nước ép thoa lên da đầu để cải thiện tình trạng của tóc và da đầu. 

- Chà xát quả tươi lên da để chữa bệnh nấm da và những bệnh liên quan đến da hoặc những vết bầm tím hay những vùng da, xương bị đau. Cũng có thể ngâm 1 lượng nhàu tươi giã nhuyễn vào nước ép quả nhàu và nước ấm, tạo thành một miếng đắp và đắp lên vùng da bạn muốn giảm đau.

- Còn nếu bạn muốn ăn quả Nhàu tươi thì hái quả Nhàu chín cây chấm muối ăn ngay hoặc quả Nhàu già gần chín (mắt quả mở to và chuyển từ màu lục sang trắng hồng), đem vào gấm trong hủ muối cho chín mùi, ăn ngày 1-2 quả. Ăn Nhàu tươi hoặc uống thuốc nhàu thường xuyên rất tốt chứ không có hại gì. Vì nhàu cung cấp cho ta một enzim, giúp cơ thể tiết ra endorphin, một chất được gọi là ma túy nội sinh, giúp ta cảm thấy vui vẻ khoan khoái, giảm đau, chống buồn phiền, giảm căng thẳng thần kinh (stress), nhờ đó giảm huyết áp. Dùng liều cao gấp đôi, có thể giúp các cơn nghiện rượu, nghiện thuốc lá và cả ma túy nếu người nghiện có quyết tâm cao để cai.

- Nếu không có nhiều thời gian có thể dùng quả khô hoặc chế phẩm trà túi lọc, pha uống như trà bình thường.
 
- Lá nhàu non nấu canh với lươn, thịt bò bồi bổ cho người vừa lành bệnh, người bị suy nhược cơ thể rất hiệu quả, nhanh hồi phục sức khỏe.
UỐNG BAO NHIÊU THÌ ĐỦ
Theo những nghiên cứu mới nhất của các nhà khoa học thì:

• Những người khỏe và trẻ tuổi nên uống mỗi ngày khoảng 30ml. 

• Đối với người lớn tuổi hơn, uống 60ml mỗi ngày, buổi sáng và cuối chiều. 
• Nếu bắt đầu chữa bệnh bằng nước ép từ quả nhàu, tháng đầu tiên nên uống khoảng 160ml/ngày. 
• Người bị chấn thương đột ngột hoặc bị giải phẫu nên uống 180-240ml/ngày, sau đó uống đều đặn từ 90-120ml/ngày.
• Những người mắc những bệnh nguy hiểm như ung thư, tiểu đường nên uống thường xuyên từ 180-240ml/ngày. 
• Đối với những trường hợp bệnh nguy hiểm đến tính mạng, nên uống từ 480-600ml/ngày chia thành từng phần nhỏ uống theo giờ, nếu khó uống hết lượng này. Bệnh về mắt thì có thể nhỏ từng giọt nhỏ vào mắt.

Trong dân gian thường lấy quả nhàu gần chín rửa sạch, để ráo, xắt lát, trộn theo tỷ lệ 1kg nhàu với 2 lạng đường cát, sau 15 ngày ép lấy nước uống dần, mỗi bữa ăn chừng hai ly nhỏ, có tác dụng: Bồi bổ sức khỏe, điều hòa huyết áp, tăng cường khả năng miễn dịch, phục hồi các tế bào bị thương tổn suy yếu, chống viêm nhiễm, giảm đau nhức mệt mỏi cơ thể...

* Chú ý kiêng uống rượu, trà, cà phê khi dùng nhàu.


Tác dụng dược lý của CÂY NHÀU - Phần 1 - Giới thiệu

Cây Nhàu có tên khoa học Morinda citrifolia, thuộc họ cà phê. Ở nước ta, Nhàu mọc nhiều ở những vùng ẩm thấp dọc theo bờ sông, suối, ao hồ hoặc mương rạch khắp các tỉnh miền Nam và một số tỉnh miền Trung.
Cây nhàu cao chừng 4 – 7m, thân nhẵn, có nhiều cành to, lá mọc đối hình bầu dục, nhọn ở đầu, dài 12 – 15 cm. Hoa nở vào tháng 1 – 2, quả chín vào tháng 7 – 8. Quả hình trứng có da sần sùi, dài chừng 5 – 6 cm, khi non có màu xanh nhạt, khi chín có màu mỡ gà, mùi nồng và cay. Ruột quả có một lớp cơm mềm ăn được, chính giữa có một nhân cứng. Bộ phận dùng làm thuốc gồm: Quả, rễ, lá, hạt cây nhàu. Rễ Nhàu bào ra có màu vàng sậm như màu nghệ, cây nhàu bào ra có màu vàng lợt hơn.

Theo nghiên cứu của y học hiện đại, quả Nhàu có chứa prosertonin nhiều gấp 40 lần so với quả Dứa. Khi chất này kết hợp với một enzym nội bào sinh ra xeronin có khả năng giúp tế bào tự sửa chữa và tái tạo.
 
Có 150 chất được tìm thấy trong quả nhàu, trong đó có: Sắt, Canxi, Kẽm, Đồng, Vitamin A, Vitamin C, Vitamin E, Vitamin B1,Vitamin B6, Vitamin B12, Axít Folic, Magie, Phốt pho và nhiều khoáng chất… Ngoài những chất này, quả nhàu đặc biệt có chứa hợp chất prexonine. Hợp chất này khi kết hợp với enzym prexoronase (có trong dạ dày) sẽ tạo thành chất xeronine. Khi protein kết hợp với xeronine tạo thành những khối có khả năng sản xuất năng lượng và giúp những tế bào khỏe mạnh phát triển hoàn hảo. Ttừ xưa trái nhàu từng được dùng trong bài thuốc "Bí quyết trường thọ" trong ngành y học cổ truyền châu Á và được xếp vào danh mục cây thuốc nam quý giá giúp tăng cường sức khoẻ, ...
 Theo đông y, quả nhàu có tác dụng nhuận tràng làm thuốc điều kinh, trị băng huyết, bạch đới, ho cảm, hen, thũng, đau gân, đái đường, chữa lỵ, hỗ trợ hệ miễn dịch, chống viêm; rễ nhàu có tác dụng nhuận tràng, lợi tiểu, làm êm dịu thần kinh, giảm đau nhức, hạ huyết áp, nhuận tràng và lợi tiểu; lá nhàu có tác dụng làm tăng lực, hạ sốt, điều hòa kinh nguyệt (giã nát đắp chữa mụn nhọt, mau lên da non hoặc sắc uống chữa đi lỵ, chữa sốt và làm thuốc bổ); vỏ cây nhàu dùng nấu nước cho phụ nữ sau khi sanh uống bổ máu.
 
Giáo sư Caujolle – Giám đốc Trung tâm khảo cứu Quốc gia Pháp về độc tính của các chất, Giáo sư Youngken thuộc trường địa học Dược khoa Massachusette và Giáo sư Ikeda thuộc trung tâm nghiên cứu vệ sinh Quốc gia Nhật Bản… đã thí nghiệm trên vật nuôi và nhận thấy tinh chất rễ Nhàu (Extrait des raciness de Morinda Citrifolia) có tác dụng nhuận trường nhẹ và lợi tiểu nhẹ, làm êm dịu thần kinh, hạ huyết áp kéo dài, ít gây độc và không gây nghiện.

Sách “Gia y trị nghiệm” của lương y Việt Cúc có ghi “rễ Nhàu vị đắng, ấm, thông huyết mạch, trừ phong tê nhức mỏi, hạ huyết áp”. Trên thực tế, khi dùng độc vị hoặc phối hợp với một số vị thuốc khác, rễ Nhàu có hai tác dụng đáng lưu ý là dưỡng tâm an thần và thông kinh hoạt huyết.

Những người thường hay căng thẳng tâm lý, dễ bực bội, cáu gắt, khó ngủ, khi dùng rễ Nhàu có thể cảm thấy tinh thần được êm dịu, thư giãn dễ ngủ. Ngược lại, một số bệnh nhân bình thường hay lo sợ vu vơ, buồn bực, than vãn thì sắc rễ Nhàu uống, có thể làm cho họ cảm thấy tươi tỉnh lạc quan hơn.

Tác dụng tự điều chỉnh giữa hưng phấn và ức chế, giữa thần kinh giao cảm và đối giao cảm cũng đã được nhóm nghiên cứu của bác sĩ Đặng Văn Hồ ghi nhận: "Dựa theo sự quan sát trực tiếp trên người bệnh, chúng tôi nhận thấy thuốc ấy (nước sắc rễ Nhàu) tạo nên một sự thoải mái rất đặc biệt, niềm vui, sự lạc quan, sự minh mẫn trong suy luận và cải thiện tính tình người bệnh. Tính chất điều hòa thần kinh còn thể hiện ở hiệu quả của việc điều hòa huyết áp, thuốc sẽ làm hạ huyết áp ở những người huyết áp cao hoặc nâng huyết áp ở những người huyết áp thấp. Trong một số trường hợp sức khỏe kém vì huyết áp thường xuyên quá thấp, chúng tôi cũng cho bệnh nhân dùng thuốc rễ Nhàu và chỉ thuốc ấy thôi đã gia tăng huyết áp của họ lên 2 hoặc 3 chỉ số".

Các dẫn chất anthraquinon ( damnacathal, nordamnacathal…) là một trong những hoạt chất chính của cây Nhàu, có tỷ lệ cao trong rễ nhàu. Năm 1994, TS. Phạm Huy Quyết nghiên cứu tác dụng kích thích miễn dịch chiết toàn phần rễ cây Nhàu có tác dụng hạ huyết áp, giảm đau, an thần.

Ngoài tác dụng ổn định huyết áp qua cơ chế thần kinh, tác dụng thông kinh hoạt huyết cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc cải thiện tuần hoàn huyết mạch nên rễ Nhàu vẫn đang là vị thuốc Nam thông dụng, được dùng phối hợp với những vị thuốc khác để chữa trị các chứng cao huyết áp do bất kỳ nguyên nhân nào.

Theo các nhà nghiên cứu, nhàu là loài của châu Á nhiệt đới và châu Đại Dương, có phân phối ở Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam . Thường mọc hoang ở nhiều nơi hoặc được trồng để làm thuốc.

Các bộ phận của cây nhàu được dùng làm thuốc là rễ, quả, lá và vỏ cây. Trong đó, rễ nhàu thường được sử dụng nhiều hơn cả. Người ta đào một phần rễ của cây nhàu, rửa sạch đất cát, thái lát mỏng, phơi hoặc sấy khô để làm thuốc. Các bộ phận khác thường được dùng tươi. Thu hái quanh năm (lá tốt nhất vào mùa xuân, quả vào mùa hạ). Phân tích trong rễ nhàu có chứa glucosid anthraquinonic gọi là moridin, có tinh thể màu vàng cam tan trong nước sôi. Ngoài ra còn có các chất moridon, moridadiol, acid rubichloric, soranjidiol, alizarinmethyl ether và rubiadin 1-methyl ether. Lá nhàu cũng có chứa chất moridin.

Theo Đông y, rễ nhàu có tác dụng nhuận trường, lợi tiểu, làm êm dịu thần kinh, hạ huyết áp. Thường dùng chữa cao huyết áp, nhức mỏi tay chân do phong thấp, đau lưng. Ngày dùng 20-40g rễ khô sắc uống. Có thể nấu thành cao 1:3, hoặc sao vàng rồi ngâm rượu.

Quả nhàu có tác dụng nhuận trường, lợi tiểu, kích thích tiêu hóa, trừ thấp nhiệt, điều kinh. Thường dùng để trợ tiêu hóa, chống táo bón, điều hòa kinh nguyệt, chữa bạch đới, băng huyết, phụ trợ chữa đái tháo đường, cao huyết áp. Ngoài ra còn chữa đau gân, ho cảm, lỵ. Người ta dùng quả nhàu chín chấm muối để ăn hoặc nướng chín để ăn. Quả nhàu non thái lát mỏng ngâm rượu, uống chữa phong thấp, đau lưng.

Quả nhàu khô còn được ngâm rượu. Mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 muỗng (thìa) canh, trước hoặc sau bưã ăn. Hoặc đâm nhỏ quả nhàu khô dùng như pha trà uống hằng ngày thay trà.

Quả nhàu non (hoặc rễ nhàu) 600g, thái lát mỏng, phơi hoặc sấy khô, ngâm với 1 lít rượu tốt, sau 2-3 tuần là dùng được. Ngày uống 30-50ml trước bữa ăn. Chữa phong thấp, đau lưng, nhức mỏi tay chân.

Lá nhàu có tác dụng làm tăng lực, hạ sốt, làm êm dịu và điều kinh. Thường dùng chữa lỵ, tiêu chảy, cảm sốt, nấu canh để ăn bổ dưỡng. Dùng ngoài, rửa lá thật sạch, giã nát đắp giúp vết thương mau lành, vết loét, làm mau lên da non. Hoặc lấy dịch lá thấm vào vải gạc đắp chữa viêm khớp đau nhức. Ngày dùng 12-20g sắc uống. Dùng ngoài không kể liều lượng.

Vỏ cây nhàu có tác dụng trợ tiêu hóa, bổ khí huyết cho sản phụ. Liều dùng 8-12g/ngày, sắc uống

*Công dụng của trái nhàu*

Hơn 2000 năm trước, những thổ dân ở đảo Tahiti đã biết sử dụng trái nhàu để nâng cao hệ miễn dịch, thải độc tố, chống lão hoá, cải thiện làn da, mái tóc... Ngày nay, với công nghệ tiên tiến, các nhà khoa học Mỹ đã chiết xuất thành công các thành phần dinh dưỡng có lợi cho sức khoẻ, loại bỏ tạp chất để sản xuất nước ép trái nhàu tạo ra các sản phẩm thực phẩm chức năng, bổ sung vi chất dinh dưỡng cần thiết cho sức khoẻ. Tác dụng chống oxy hoá trong tinh chất nước trái nhàu giúp cân bằng và tăng sức đề kháng cho cơ thể. Uỷ ban thực phẩm mới Châu Âu sau khi tiến hành kiểm nghiệm nước ép Noni đã tán đồng việc lưu hành nước ép trái nhàu như một loại thực phẩm mới ở Châu Âu.

Theo nghiên cứu của Tiến sĩ Y học người Mỹ Neil Solomon, trái nhàu có công dụng phòng ngừa và giảm thiểu một số bệnh sau:

-         Dị ứng
-         Viêm khớp
-         Cao huyết áp
-         Bệnh về da và tóc
-         Bệnh tim
-         Hen suyễn
-         Tăng cường hệ miễn dịch
-         Bệnh đau nhức nửa đầu
-         Đa xơ hoá
-         Bệnh thận
-         Đột quỵ
-         Tăng sự minh mẫn
-         Trầm cảm
-         Đau sợi cơ…

(Còn tiếp)

Bụp Giấm - Thuốc Hay

Nhiều người đang rỉ tai nhau tìm mua đài hoa bụp giấm và các chế phẩm từ đài hoa này về sử dụng hàng ngày để phòng ngừa và chữa trị nhiều loại bệnh: huyết áp, tim mạch, tiểu đường, ung thư... Thực hư ra sao?

Hồng đài là đài hoa màu đỏ của cây bụp giấm (Hibiscus sabdariffa L. họ bông – Malvaceae). Người Việt gọi “bụp giấm” do hoa có màu hồng đỏ gần giống hoa dâm bụp (bông bụp). Đài hoa mọng nước, màu đỏ đậm, có lông nhỏ, phiến nhọn dần từ dưới lên, nửa dưới màu tím, vị rất chua (như giấm), được sử dụng làm gia vị hoặc pha chế nước giải khát. Hiện cây được trồng tập trung ở Bình Thuận theo tiêu chuẩn VietGAP, chủ yếu để thu hái đài hoa, phơi sấy khô phục vụ xuất khẩu nguyên liệu thô qua châu Âu.

Đài hoa bụp giấm chứa nhiều vitamin C, axít hữu cơ. Hoạt chất chính là các anthocyanin, polyphenol (protocatechuic axít, quercetin), vitamin B1, vitamin B2, β-caroten… trong đó, anthocyanin chiếm tỷ lệ khá lớn (1,5g/kg khô). Đã có hàng chục bài báo quốc tế công bố kết quả nghiên cứu về tác dụng dược lý của đài hoa bụp giấm đối với tình trạng rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, đái tháo đường, ung thư...

Hạ mỡ máu: khá nhiều nghiên cứu thực hiện trên các dạng chế phẩm khác nhau từ bụp giấm (đài hoa khô, dịch chiết cồn, viên nang, trà), thời gian theo dõi từ 1 – 3 tháng, cho thấy bụp giấm thể hiện tác dụng giảm cholesterol toàn phần (7,6 – 26%), giảm triglyceride (23 – 48%), giảm LDL-C (8 – 32%), tăng HDL-C (10 – 16,7%).

Hạ huyết áp: kết quả nghiên cứu của Herrera và cộng sự (Phytomedicine, 2004), cho thấy khi uống 10g đài hoa bụp giấm khô hãm với 519ml nước nóng mỗi ngày trước bữa sáng liên tục bốn tuần, huyết áp tâm thu giảm 11%, huyết áp tâm trương giảm 12,5%, tương đương với nhóm bệnh nhân đối chứng uống Captopril liều 50mg/ngày. Kết quả của một nghiên cứu lâm sàng mù đôi có đối chứng được thực hiện bởi nhóm McKay và cộng sự (J Nutr., 2010) tiến hành trong sáu tuần, nhóm nghiên cứu mỗi ngày uống 240ml trà bụp giấm, huyết áp tâm thu và tâm trương đều giảm (5,5% và 4%). Kết quả nghiên cứu của nhóm Diane L. McKay (2008) thì kết luận “sử dụng hàng ngày trà bụp giấm có thể giảm huyết áp ở người tăng huyết áp độ 1”. 

Hạ đường huyết: bụp giấm có khả năng ức chế alpha-glucosidase và alpha-amylase, hai enzym liên quan mật thiết đến chuyển hoá nhóm bột đường (carbonhydat) của cơ thể (Ademiluyui, J Med Food, 2012). Trên mô hình tăng đường huyết bằng streptozotocin hoặc alloxan, uống 100 – 200mg/kg/ngày, nồng độ glucose máu giảm 60 – 65% (Peng, J Agric Food Chem, 2011; Farombi, Fundam Clin Pharmacol, 2007).

Bảo vệ gan: dịch chiết nước và anthocyanin (200mg/kg) của đài hoa bụp giấm làm giảm men gan ALS, AST trên bệnh nhân rối loạn chuyển hoá. Dịch chiết ethanol cũng làm giảm đáng kể peroxid lipid trên mô hình hoại tử gan bằng carbon tetrachlorid (Dahiru và cộng sự, 2003).

Một số tác dụng khác: an thần, giảm đau, hạ sốt, tăng khả năng bài tiết urate của thận… Dịch chiết methanol bụp giấm còn ức chế một số dòng tế bào ung thư dạ dày, bạch cầu, gan, trực tràng, niêm mạc miệng.

Liều dùng tối đa không quá 2g đài hoa khô/người 60kg: nghiên cứu về tính an toàn của bụp giấm trên động vật thí nghiệm, các nhà khoa học khuyến cáo liều tối đa dùng ở người là 32mg/kg (2,2g đài hoa/ngày/người nặng 68kg hoặc 2g/ngày/người 60kg).

Không chế biến ở nhiệt độ quá cao, trong thời gian dài: anthocyanin được xem là hoạt chất chính của bụp giấm, dễ bị phân huỷ ở nhiệt độ cao. Vì lý do này mà dạng sử dụng thường gặp nhất của bụp giấm là trà.

Nên chia uống nhiều lần trong ngày hơn là dùng một lần số lượng lớn: do anthocyanin có tốc độ thải trừ khá nhanh. 

Phụ nữ mang thai và cho con bú không nên dùng: chưa có bằng chứng về tác dụng bất lợi của bụp giấm đối với thai kỳ, nhưng thực nghiệm trên chuột mang thai và 21 ngày sau sinh nở cho thấy, bụp giấm gây suy dinh dưỡng thai kỳ, dẫn đến tăng thể trọng và chậm dậy thì ở chuột con (Iyare và cộng sự, 2008). Bụp giấm ở liều 200mg/kg x 5 ngày làm giảm estrogen và trọng lượng tử cung của chuột cái, giảm testosterol và trọng lượng tinh hoàn của chuột đực (Ali BH, Nat Prod Commun, 2012).

Thận trọng khi dùng chung với các loại thuốc khác: trà bụp giấm có thể làm giảm 62% nồng độ diclofenac huyết thanh, giảm tốc độ thải trừ diclofenac qua nước tiểu. Với thuốc giảm đau hạ sốt có acetminophen (paracetamol) cũng cho kết quả tương tự. Dịch chiết bụp giấm dùng chung với thuốc lợi tiểu hydrochlorothiazid làm tăng thể tích nước tiểu, giảm pH nước tiểu, giảm nồng độ ion natri, bicarbonat và clo trong nước tiểu. Tốc độ thanh thải của hydrochlorothiazid giảm khi tăng liều bụp giấm. Bụp giấm có hàm lượng cao vitamin C và axít hữu cơ nên còn gây toan hoá nước tiểu, ảnh hưởng đến tốc độ thải trừ các thuốc có bản chất axít và kiềm qua đường tiểu.

Mặc dù bụp giấm có nhiều tác dụng hữu ích, nhưng hiệu quả sử dụng còn tuỳ thuộc tuổi tác, tình trạng sức khoẻ, loại bệnh mạn tính… của người sử dụng. Nên chọn mua những chế phẩm có xuất xứ rõ ràng, đọc kỹ chỉ dẫn trên bao bì và tham khảo thầy thuốc, đặc biệt khi bạn đang trong giai đoạn sử dụng thuốc để điều trị các bệnh lý cấp tính và mạn tính.
 
PGS.TS.DS Nguyễn Phương Dung
Phó trưởng khoa y học cổ truyền;
trưởng bộ môn bào chế đông dược, đại học Y dược TP.HCM

Bài thuốc trị hóc xương

Khi ăn cá thịt, một số trường hợp nuốt phải xương sẽ mắc lại nơi cuống họng, đau ở thực quản hay ở khoang miệng. Lúc này người bị hóc xương chỉ cần lấy lá thèn đen tươi rửa sạch, ngâm với nước muối 5%. Sau khi vớt lá lên, lấy khoảng từ 3 - 5 lá/ lần, tự mình nhai, khi đã nhuyễn thì nhẹ nhàng nuốt dần cho nước này thấm xuống, cũng có thể nuốt bã thuốc này từ từ, đến khi nào xương trôi xuống thì thôi.

Lưu ý sau khi chiếc xương đã trôi xuống, người bệnh cần kiêng những chất nóng, cay, kiêng uống rượu bia, không ăn đồ cứng như: Xương, bánh mỳ nướng, thịt nạc nướng… khoảng từ 2 - 3 ngày. Giải thích công dụng của lá thèn đen, lương y Nơi cho biết: Lá thèn đen có tác dụng làm mềm xương, tiêu viêm nơi chiếc xương bị hóc. Loại cây này cũng được người dân dùng để kho cá với tác dụng làm mềm xương, nước kho có màu đẹp, lại tránh được ngộ độc.

Nam dược trị nam nhân, đó là phương châm chữa bệnh của Y học cổ truyền Việt Nam: “Người ở đâu thì sẽ phù hợp với thổ nhưỡng cây cỏ ở đấy, người Việt nên tận dụng cây thuốc Nam bởi vừa hiệu quả, tiện lợi, người dân lại chủ động được nguồn dược liệu. Với những người dân còn nghèo không có tiền chữa bệnh, những loại cây thuốc trong vườn chính đôi khi là “thần dược” vừa hiệu quả lại tiết kiệm được chi phí chữa bệnh.


Hậu duệ của cụ Hải Thượng Lãn Ông với bài thuốc trị động kinh

Là hậu duệ thứ 9 của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, ban đầu ông Lê Huy Hoàng (SN 1961, ngụ số 35, phố Lãn Ông, phường Hàng Bồ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) lại thờ ơ với nghề thuốc. Chỉ đến khi tự chữa khỏi bệnh cho mẹ, ông mới quay lại nghề gia truyền. Bài thuốc chữa động kinh và chữa ho là hai trong số các “tuyệt chiêu” của lương y này.

Kỹ sư chế tạo máy chuyển nghề thuốc Nam

Gia đình có 9 anh em, ông Hoàng là con lớn trong gia đình hậu duệ đời thứ 9 của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác. Từ nhỏ cậu bé chỉ ham học ngành kỹ thuật, sau này trở thành kỹ sư chế tạo máy, giảng viên Trường Đại học Tây Nguyên.

Bước ngoặt quay lại nghề gia truyền là năm 1993, mẹ ông bị bệnh viêm đại tràng co thắt, chạy chữa nhiều nơi không khỏi, người con cả liền nhớ đến thuốc Nam. Kết quả thành công, ông quay lại với nghề gia truyền từ ấy.

Bài thuốc chữa động kinh 

Theo lương y Hoàng, nguyên nhân bệnh này do phong nhiệt xâm nhập vào tâm thận (tim thận) làm rối loạn chức năng thần khí. Từ đó làm tâm thần bất giao, khí huyết ngừng trệ không lên não được, não thiếu oxi, ảnh hưởng đến thần kinh trung ương. Ngoài ra, còn lý do khác như dân gian nói, có thể khi mang bầu, người mẹ có tâm địa không tốt, con mình sẽ có nguy cơ mắc bệnh.

Thông thường độ tuổi động kinh từ 9 - 16 là phổ biến, cấp độ cao hơn là thần kinh phân liệt, thường rơi vào người từ 16 - 26 tuổi. Bệnh nhân thường có những biểu hiện như: Hai tay co giật, nặng thì ngã vật ra đất, sùi bọt mép. Bệnh thần kinh phân liệt thì giảm trí nhớ, làm việc không mục đích định hướng, tâm trí rối loạn, đêm nằm toát mồ hôi.

Hai loại bệnh này sử dụng chung một bài thuốc, chỉ có khác liều lượng. Bài thuốc bao gồm các vị: Đương quy (10g), Đẳng sâm (10g), Thiên ma (15g), Hoàng liên (15g), Hồng hoa (15g), Đan sâm (10g), Hoàng cầm (10g), Tạo nhân (10g), Phục thần (15g), Trần bì (15g), Sinh hoàng kỳ (15g), Táo đỏ (5g), Sinh địa (10g), Cam thảo (4g), Cát cánh (10g), Ngũ vị tự (15g).

Nếu chữa bệnh động kinh phải kết hợp thêm với thuốc Hoa đà tái tạo hoàn (làm theo chỉ dẫn của nhà sản xuất) để có hiệu quả hơn. Trọng lượng thuốc không cố định mà tăng dần theo số tuổi. Tác dụng của bài thuốc là thanh nhiệt, an thần, hoạt huyết dưỡng não.

Cách sắc thuốc cũng khá đơn giản, chỉ cần đổ nước ngập thuốc, đun sôi khoảng 5 phút, để nguội là bệnh nhân có thể uống được, ngày đun hai lần, uống thay nước trắng trong ngày, một thang có thể sử dụng trong 3 ngày. Đặc biệt, bệnh nhân không cần kiêng kị bất kì thực phẩm nào.

Một gia đình đã kiểm chứng tác dụng bài thuốc này là ông Nguyễn Duy Tiến (số nhà 502, G2, tập thể Hào Nam, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa) có con trai bị bệnh động kinh từ năm học lớp 2, sau khi gõ cửa nhiều nơi, chữa trị nhiều loại thuốc, đã dùng bài thuốc này.

“Ban đầu cháu ngủ dậy hai tay thường bị co giật, lơ ngơ khoảng 5 phút mà không biết gì. Vợ chồng tôi đã chạy chữa nhiều nơi nhưng bệnh tình cháu không suy giảm. Sau khi tự chế bài thuốc trên, uống 3 tháng, cháu đã không còn biểu hiện co giật, tinh thần ổn định trở lại”, người cha cho biết.

“Khuyến mãi” bài thuốc chữa ho

Một “sở trường” khác của ông Hoàng là chữa ho. Nguyên nhân bệnh do môi trường tác động đến phế (phổi), làm chức năng phế khí suy giảm, dẫn đến viêm họng, ho có đờm. Bệnh nhân thường ho liên tục, ho có đờm, hơi sốt nhẹ.

Cách tự chế bài thuốc chữa ho khá đơn giản, gồm 5 vị: Kha tử (30g), Xuyên bối ngẫu (20g), Cát cánh (10g), Trần bì (10g), Cam thảo (30g). Tác dụng của bài thuốc là giải độc, tiêu đờm, tiêu viêm, bổ phế khí. Số thuốc này đem nghiền nhỏ, tán bột dùng mật ong để vê tròn lại đường kính khoảng 1cm mỗi viên.

Giải thích tác dụng của thuốc ngậm này, ông Hoàng cho biết: “Ngậm thuốc có tác dụng thẩm thấu vào tế bào phế quản, chống lại tác nhân gây bệnh bên ngoài, ngăn sự xâm nhập vi khuẩn vào phổi. Qúa trình thuốc tan làm tăng lỗ khí của phổi để tiêu diệt mầm mống gây bệnh ở phổi”. Mỗi ngày bệnh nhân ngậm từ 20 - 30 viên, chia làm nhiều lần, nếu trẻ nhỏ thì số lượng chỉ bằng một nửa người lớn. Phụ nữ có thai và cho con bú đều sử dụng được. Bệnh nhân cũng không cần kiêng thực phẩm nào.

Đó là bài thuốc chữa ho thông thường, còn nếu ho do do nguyên nhân như thận hư hay tâm phế bất hòa thì phải dùng bài thuốc khác. Cụ thể, nếu ho do thận hư thì thường ho khan, ho về đêm nhiều hơn, đi tiểu nhiều. Bài thuốc chữa trị sẽ gồm các vị: Đơn bì (10g), Hoài sơn (20g), Sơn thù (15g), Trạch tả (15g), Thục địa (20g), Bạch linh (15g); cần gia giảm thêm Bán hạ chế (10g), Trần bì (15g), Chỉ xác (15g), Hương phụ (20g), Cát cánh (15g), Hoàng liên (15g), Hoàng bá (10g) tùy theo thể trạng từng người. Người bệnh đổ 3 bát nước vào thuốc, cô cạn còn một bát; lần hai cũng đun 3 bát nước được một bát, lần 3 tương tự. Ba lần thuốc trên đổ chung vào một lần để chất lượng đều nhau, uống khi nguội; liều lượng 3 lần/ngày, trước khi ăn. Khi uống thuốc này, cần kiêng đồ ăn nóng như ớt, hạt tiêu, gừng…

Nếu ho do tim phổi bất hòa, bệnh nhân thường có những cơn ho kéo dài, một ngày có nhiều lần ho từ 30 giây đến 1 phút, có nhiều đờm. Nguyên nhân do kẹt động mạch phổi, khiến máu không lưu thông vào phổi được. Nguyên nhân bệnh ho tim phổi bất hòa này đa phần là do bẩm sinh nhiều hơn, ngoài ra cũng có thể do tinh thần bất an, nếu để ho kéo dài thường dẫn đến tràn dịch vào phổi.

Bài thuốc bao gồm các vị: Đan sâm (30g), Hồng hoa (15g), Đương quy (20g), Uất kim (10g), Cát cánh (10g), Hoàng liên (15g), Tạo nhân (20g), Táo đỏ (10g), Ngọc trúc (10g), Bạch thược (15g), Cam thảo (6g), Tâm sen (10g). Tác dụng của bài thuốc là an thần, hoạt huyết, bổ tâm phế. Cách sắc thuốc cũng như bài thuốc chữa ho do thận hư.

Chia sẻ về chuyện nghề, lương y Hoàng cho hay nỗi trăn trở của ông là ngày nay, nhiều bài thuốc gia truyền có khi lại không phát huy hết hiệu quả nếu không biết sáng tạo gia giảm, thay đổi một số thành phần. Lương y này nhận định: “Bài thuốc gia truyền chỉ là nền, cần phải gia giảm nhiều vị thuốc để phù hợp với mỗi người. Nếu quá dập khuôn máy móc, bệnh không thuyên giảm, thậm chí có thể làm cho người bệnh mệt mỏi hơn”.

Nguồn: Pháp Luật Việt Nam


Bài thuốc đơn giản không tốn tiền điều trị hiệu quả bệnh VIÊM XOANG

Thương con trai bị viêm xoang từ nhỏ, đã điều trị nhiều năm với đủ mọi phương pháp mà không khỏi bệnh, vợ chồng ông bà Trần Ngọc Đảnh - Trần Thị Kim Phúc (ngụ Quận 6, Tp.Hồ Chí Minh) cất công mày mò, cậy nhờ những bài thuốc dân gian.

Điều thần kỳ đã đến khi gia đình này được mách nước tự chế bài thuốc cực kỳ đơn giản của đồng bào dân tộc Tây Nguyên dùng cây giao (một loại cây thuộc họ xương rồng), giúp người bệnh “đoạn tuyệt” với bệnh xoang mà không tốn một đồng tiền.

Bài thuốc quý của đại ngàn

Ông Đảnh (67 tuổi) vốn không phải là bác sĩ, cũng không một ngày được học về thuốc trị bệnh. Ông trước là giảng viên Trường Đại học Nông Lâm, sau này về công tác ở Sở Nông nghiệp cho đến khi nghỉ hưu.

Vị kỹ sư về hưu kể lại: “Con trai tôi bị viêm xoang từ năm 10 tuổi. Cứ mỗi lần thay đổi thời tiết là cháu đau, nhức đầu, nước mũi chảy liên tục rất khó thở. Ngoài ảnh hưởng lớn đến sức khỏe thì căn bệnh này còn gây cho cháu rất nhiều bất tiện trong sinh hoạt và học tập. Thương con, vợ chồng tôi cứ nghe nói có thầy thuốc nào, bài thuốc nào chữa bệnh cho con dù xa xôi mấy cũng lặn lội đến. Suốt nhiều năm đưa con đi điều trị ở khắp các bệnh viện nhưng bệnh vẫn không thuyên giảm”.

Khoảng đầu năm 2003, một lần ông Đảnh tình cờ gặp một đồng đội cũ từng cùng chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên. Khi biết những vất vả của gia đình bạn trong việc điều trị cho con trai, người này đã chỉ cho chú Đảnh một bài thuốc rất mà trước khi  đóng quân ở Tây Nguyên đã được đồng bào dân tộc tốt bụng chỉ cho khi thấy mình bị xoang nặng. Bản thân người này sau khi áp dụng đã khỏe mạnh, hết bệnh từ đó đến nay.

Bài thuốc này kỳ thực rất đơn giản, chỉ duy nhất một vị thuốc là cây giao. Phương pháp chữa bệnh cũng rất dễ dàng, người bệnh chỉ việc đun cây giao tươi lên và xông. Chỉ sau hơn một tháng dùng loại thuốc tự chế này, căn bệnh dai dẳng và “cứng đầu” của con trai ông Đảnh đã hết hẳn. Người thanh niên này đang học tập và làm việc tại Úc, sống trong mùa đông lạnh và khắc nghiệt của xứ sở “chuột túi” nhưng căn bệnh vẫn không tái phát.

Từ khi con trai khỏi bệnh, trong những lần đi tập dưỡng sinh, sinh hoạt các câu lạc bộ, bà Phúc đã phổ biến bài thuốc này cho người quen và rất nhiều người nhờ đó đã khỏi bệnh. Nhiều năm chứng kiến nỗi khổ của con trai khi phải sống chung với căn bệnh khó chịu, ông bà quyết tâm giúp những người bị bệnh như con trai mình tìm lại sức khỏe.

Khi bài thuốc được phổ biến rộng rãi, nhiều người tìm đến gia đình để xin bài thuốc, cây thuốc. Ngôi nhà ống giữa đất Sài Thành không có không gian để trồng cây nên để giúp đỡ những người bệnh, nên có mấy năm ròng, mỗi tuần ông bà lại thuê một chiếc xe 16 chỗ chạy ra Ninh Thuận, Bình Thuận chở đầy một xe cây giao về phát cho mọi người.

Thời gian gần đây do tuổi cao, vợ chồng ông bà không thể đi xa lấy thuốc cho mọi người nên bỏ thời gian soạn hẳn một quy trình đầy đủ từ mô tả cây, công dụng, cách làm, tác dụng, lưu ý … và mỗi người bệnh tìm đến đều được biếu một bản quy trình này.

Chi tiết quy trình diệt bệnh xoang bằng cây giao

Điều đầu tiên trong bài thuốc này, ông Đảnh nhấn mạnh: “Do cây giao thuộc họ xương rồng, có mủ đục có hại cho mắt nên trong mọi thao tác làm thuốc (cắt, bẻ…) nhất thiết phải thật cẩn thận, tránh để mủ này dính vào mắt (có thể mang kính), tránh trường hợp mủ có khả năng làm hại, đui mắt.

Những dụng cụ nhất thiết phải có để chữa bệnh xoang gồm: 1. Một ấm nước nhỏ (bằng kim loại, sành sứ đều được và lưu ý sau này không dùng ấm này để nấu nước uống vì sợ độc). 2. Lấy một tờ lịch treo tường loại lớn quấn xéo lại thành một cái ống dài. Lưu ý ống phải dài khoảng 50cm, nếu ngắn quá thì hơi sẽ quá nóng, dễ bị phỏng da; còn nếu dài quá thì hơi không đủ mạnh để hít. Ống phải quấn sao cho một đầu vừa miệng vòi ấm, còn một đầu nhỏ hơn dùng để hít. Nếu có ống tre hay trúc được thông lỗ giữa các đốt cây thì tốt hơn, nhưng không được dùng loại ống bằng nhựa bởi dễ nóng chảy.
Bài thuốc xông mỗi ngày gồm một chén (bát) nước và khoảng 70gr cây. Nếu không có cân thì có thể đếm khoảng 15-20 đốt cây thuốc cho một ngày dùng. Thường buổi sáng dùng phần lớn lượng cây thuốc trong phần thuốc của cả ngày, chừa lại một vài nhánh nhỏ để đến chiều bổ sung lượng thuốc đã bốc hơi.

Nếu dùng một lần một ngày thì trọn phần thuốc đã định vào một lần. Cắt nhỏ các đốt cây thành cỡ một nửa đốt ngón tay rồi thả vào ấm. Nên cắt cây ngay trên miệng ấm để cho mủ cây nhỏ vào ấm càng tốt. Sau đó đặt ấn lên bếp, nên sử dụng loại bếp có chức năng tăng giảm lửa như bếp ga mini. Đầu tiên vặn lửa thật lớn cho nước trong ấm sôi sùng sục. Khi thấy hơi xông ra nhiều từ vòi ấm thì bớt lửa đến cực nhỏ, canh sao cho hơi vẫn còn bốc ra nhẹ ở vòi ấm. Kế tiếp đưa một đầu ống đã quấn vào vòi ấm, còn một đầu cho vào mũi để hít hơi xông lên.

Thời gian xông là hai lần trong một ngày (nên sử dụng vào sáng và tối). Thuốc đã dùng buổi sáng nên để dành và hâm lại dùng buổi tối. Khi hâm dùng lần hai thì nhớ bổ sung thêm một ít nước cùng vài đốt cây mới. Sau đó đổ bỏ, hôm sau lại làm liều thuốc mới. Hai hôm đầu xông mỗi lần 20 phút, từ ngày thứ 3 - 5 mỗi lần 25 phút, sau đó xông 30 phút mỗi lần và duy trì như vậy cho đến hết bệnh. Khi bệnh đã khỏi, nên xông củng cố thêm vài lần, mỗi lần 45 phút rồi mới nghỉ hắn. Trẻ em nên xông với thời gian ngắn hơn so với người lớn, để khi quen dần mới tăng thời gian lên.

Theo ông Đảnh, nên xông kiên trì cho đến khi hết hẳn, bệnh nặng có thể xông đến khoảng 30 ngày. Sau đó duy trì thêm một vài lần cho chắc ăn rồi ngưng, không nên lạm dụng. Về sau, nếu có tái phát mới xông tiếp. Có nhiều trường hợp bệnh nặng lâu năm, khi xông đã khỏi bệnh lâu dài.

Kinh nghiệm bản thân của vị kỹ sư về hưu này cho thấy hễ bệnh càng nặng thì khi xông sẽ càng thấy có hiệu quả nhanh, bình thường chỉ sau từ 2 - 4 lần xông sẽ thấy bệnh thuyên giảm rõ. Nếu xông quá lâu mà vẫn không có chút kết quả gì thì chỉ có thể là cơ thể người bệnh không “chịu thuốc” hoặc là đã lấy không đúng giống thuốc hay sử dụng không đúng cách. Những trường hợp này nên ngưng dùng. Qua nhiều năm tiếp xúc với nhiều người bệnh xoang, ông Đảnh khẳng định: “Tỉ lệ khỏi bệnh là rất cao, khoảng trên 90% người đã dứt bệnh xoang khi xông mũi bằng cây giao.”

Ông Đảnh lưu ý: “Người mới xông có thể gặp các biểu hiện sau: Có người xông vào thấy thông mũi, nhẹ đầu, dễ chịu và khỏi bệnh nhanh chóng. Có người 2 - 3 hôm đầu thấy sổ mũi nhiều, khó chịu nhưng tiếp tục xông sẽ qua khỏi và êm dần cho đến khi hết bệnh. Có một số bệnh nhân viêm xoang sàng sẽ thấy bớt đau ở cổ và vai nhưng dồn lên đau nhiều ở đầu nhưng chừng 2 - 3 hôm sau cơn đau sẽ dịu dần; khi xông tiếp sẽ hết đau rồi hết hẳn bệnh”.

Một lưu ý cuối cùng: Bài thuốc này không được dùng cho phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú.

Cây giao là một loại cây thuộc họ xương rồng, không lá, không gai (Có nơi còn gọi là cây nọc rắn, cây càng tôm, cây xương khô, xương cá hay cây san hô xanh...). Cây mọc hoang ở nhiều nơi, ở thôn quê cây thường được trồng làm hàng rào.

Thân chỉ gồm nhiều đốt tròn có đường kính như chiếc đũa, màu xanh, có độ dài không đều, mọc tua tủa ra các phía. Lá nhỏ, hẹp, rụng sớm, thường chỉ có cành nhánh trơ trọi. Thân khi bẻ ra thấy nhiều mủ màu trắng đục như sữa, và chính mủ này là vị thuốc trị bệnh xoang.

Cây dễ trồng, có thể cắt cành và giâm xuống đất ẩm. Sau khi giâm, người ta tưới nước vừa phải mỗi ngày, sau vài ngày thì cây sẽ bén rễ, rồi dần sẽ nảy nhánh con, phát triển tốt.

Thủy Trúc

Thuốc Nam điều trị các bệnh Âm Hư - ra mồ hôi

Mồ hôi là một chất dịch lỏng với dung môi là nước và nhiều lại chất tan hàm chứa trong đó (chủ yếu là các muối clorua) do các tuyến mồ hôi nằm ở da của các động vật có vú tiết ra. Trong mồ hôi cũng hàm chứa nhiều chất thơm như 2-methylphenol (o-cresol) và 4-methylphenol (p-cresol) cũng như một lượng nhỏ urê. Hiện tượng cơ thể bài tiết mồ hôi được gọi bằng một tên thông dụng là đổ mồ hôi hay ra mồ hôi, còn hiện tượng bài tiết mồ hôi ở cường độ cao do sốc hay do cơ thể nằm trong tình trạng nguy hiểm được gọi là vã mồ hôi hay toát mồ hôi.

Ở người, việc đổ mồ hôi có chức năng chủ yếu là điều hòa thân nhiệt, mặc dù có ý kiến cho rằng mồ hôi của nam giới cũng có chứa các pheromone. Một lượng nhỏ chất độc cũng được bài tiết ra khỏi cơ thể qua việc đổ mồ hôi.

Cơ thể bạn có từ 2 đến 4 triệu tuyến mồ hôi, vì vậy việc tiết mồ hôi là bình thường, nhưng khi mồ hôi tiết ra quá nhiều, đó có thể là bệnh.

 1. Âm hư sinh nhiều mồ hôi:

Toan táo nhân sao: 5 đ/c; Đảng sâm: 3 đ/c; Phục Linh: 3 đ/c. Làm nhỏ mịn, uống bằng nước cơm hoặc sắc nước uống.

2. Thể hư nhiều mồ hôi (Tự hãn, đạo hãn):

Phù tiểu mạch lượng phù hợp sao tán nhỏ mịn, nước cháo gạo uống hoặc sắc nước uống.

3. Dương hư vượt ra ngoài, sốt về chiều, mồ hôi trộm, tự ra mồi hôi:

Long cốt: 4 đ/c; Mẫu lệ: 4 đ/c; Phụ tử, Bạch thược, Bạch vi đều 3 đ/c; Sinh khương: 3 đ/c; Đại táo: 3 quả; Cam thảo: 1 đ/c; Sắc nước uống.

4. Thể nhược biểu hư bất có, tự ra mồi hôi:

Hoàng kỳ: 6 đ/c; Bạch truật: 2 đ/c; Phòng phong: 2 đ/c. Nghiền nhỏ, mỗi lần uống 2 đ/c; ngày uống 2 lần, ngoáy với rượu uống.

5. Khí hư tự ra mồ hôi:

Hoàng kỳ: 3 đ/c; Mẫu lệ: 3 đ/c; Ma Hoàng căn: 3 đ/c; Phù tiểu mạch: 5 đ/c; Sắc nước uống.

6. Thể hư nhiều mồi hôi (tự hãn, đạo hãn):

Long cốt, Mẫu lệ, Sơn thù du đều 3 đ/c; Sắc nước uống trước lúc đi ngủ buổi tối.

7. Thể hư sốt nhẹ, ra mồ hôi trộm:

Bạch vi, Địa cố bì. Sắc nước uống.

8. Thần kinh suy nhược, tự ra mồ hôi, di tinh, bạch đới:

Kinh anh tử: 1 - 2 lạng. Sắc nước uống hoặc cô đặc thành cao uống.

9. Thể hư nhiều mồ hôi:

Bá tử nhân, Bá hạ khúc đều 2 lạng; Nhâm sâm, Mẫu lệ, Ma Hoàng Căn, Bạch truật, Ngũ vị tử đều 1 lạng. Nghiền chung nhỏ mịn, táo nhục làm viên to như hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 20 - 30 viên, ngày uống 2 lần. Làm tán uống cũng được.

10. Âm hư nhiều mồ hôi:

Bá tử nhân: 4 đ/c; Mạch phu (trấn lúa mạch): 4 đ/c; Bán hạ khúc, Mẫu lệ, Đảng sâm, Ma hoàng căn, Bạch truật đều 3 đ/c. Nghiền nhỏ, táo nhục làm viên, hoặc sắc uống.

Thuốc NAM hỗ trợ điều trị Trĩ

Bệnh Trĩ, hay còn gọi là bệnh lòi dom theo dân gian, là bệnh được tạo thành do dãn quá mức các đám rối tĩnh mạch trĩ (hay sự phình tĩnh mạch) ở mô xung quanh hậu môn. Có hai loại trĩ là trĩ nộitrĩ ngoại. Trĩ nội chịu lực nén bên trong nên có chiều hướng sung huyết, chảy máu và đôi khi bị sa. Trĩ ngoại có thể có huyết khối phát triển rất đau. Là bệnh rất phổ biến, đứng hàng đầu trong các bệnh lý vùng hậu môn đến nhập viện. Bệnh nhân mắc bệnh trĩ thường đi khám và điều trị rất muộn sau nhiều năm, vì bệnh tuy có ảnh hưởng tới cuộc sống nhưng không nặng nề nên bệnh nhân thường bỏ qua và vì bệnh ở vùng kín đáo nên bệnh nhân thường ngại ngùng nhất là phụ nữ. Chỉ đến khi chảy máu nhiều hoặc bị sa búi trĩ thì bệnh đã ở cấp độ nặng, không thể dùng thuốc mà phải chỉ định phẫu thuật.

Dấu hiệu của bệnh

Bệnh trĩ là bệnh do sự căng dãn quá mức tại các tĩnh mạch ở trực tràng – hậu môn gây viêm sưng hoặc xuất huyết. Bệnh trĩ thường xảy ra ở người bị táo bón kinh niên, công việc ít đi lại, ở phụ nữ mang thai. Người mắc bệnh trĩ mới đầu chỉ có cảm giác ngứa rát đôi chút, lâu dần sẽ đi ngoài ra máu và đau rát nhiều hơn. Bệnh trĩ ngoại thường sớm được phát hiện và điều trị nhanh hơn, do người bệnh có thể sờ thấy khi trĩ ở mức độ nhẹ. Với bệnh trĩ nội, thường người bệnh chỉ nhận biết được khi bệnh đã ở giai đoạn nặng, búi trĩ sa hẳn bên ngoài hậu môn hoặc bị tổn thương dẫn đến xuất huyết nặng, viêm sưng, nhiễm trùng búi trĩ.

Phân loại

Bệnh trĩ được chia làm 2 loại: Trĩ nội và trĩ ngoại. Bệnh trĩ là sự phồng lớn của một hay nhiều tĩnh mạch thuộc hệ thống tĩnh mạch trĩ trên hoặc tĩnh mạch trĩ dưới hay cả hai gây nên trĩ nội, trĩ ngoại hay trĩ hỗn hợp. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, kể cả trẻ em. Thực ra, trĩ nội và trĩ ngoại chỉ khác nhau về vị trí phát sinh búi trĩ. Với việc phân biệt hai loại trĩ này sẽ giúp ích cho quá trình thăm khám và điều trị căn bệnh này.

Nếu các xoang tĩnh mạch trĩ trên (trực tràng trên) phồng to, trĩ được hình thành ở trên đường lược được gọi là trĩ nội.

Nếu các xoang tĩnh mạch trĩ dưới( trực tràng dưới) phồng to, trĩ được hình thành ở dưới đường lược được gọi là trĩ ngoại.

Trĩ hỗn hợp tức là trên cùng một bệnh nhân xuất hiện cả trĩ nội và trĩ ngoại. Thông thường, khi diễn tiến lâu ngày, phần trĩ nội và phần trĩ ngoại sẽ liên kết với nhau, tạo thành trĩ hỗn hợp. Búi trĩ nội, khi đã sa tới độ 3, thường hiện diện dưới hình thái trĩ hỗn hợp.

Cấp độ bệnh

Bệnh trĩ ở cấp độ 1 & 2, người bệnh thường có các triệu chứng sau: Đau và chảy máu khi đại tiện, ngứa hậu môn, tiết dịch gây viêm da, ngứa và ướt viêm quanh hậu môn.
Bệnh trĩ ở cấp độ 3 & 4, búi trĩ bên trong (trĩ nội) bị sa quá mức gây nghẹt hay tắc mạch hay gây nứt, áp xe hậu môn, hoặc búi trĩ bên ngoài (trĩ ngoại) bị tổn thương nhiễm trùng gây lở loét, xuất huyết trầm trọng hay tạo thành những cục máu đông nằm trong búi trĩ, có nguy cơ gây biến chứng nguy hiểm và sinh ra các bệnh khác. Người bệnh có thể vừa mắc bệnh trĩ nội vừa mắc bệnh trĩ ngoại. Nếu không sớm điều trị, sẽ làm người bệnh ngày càng có cảm giác vướng víu, khó chịu, chảy máu và đau đớn nhiều hơn mỗi khi đại tiện.

Bệnh trĩ ở cấp độ nhẹ có thể tự chữa trị, nếu để chuyển sang giai đoạn nặng thì việc điều trị bệnh trĩ sẽ trở nên rất khó khăn, phải có sự can thiệp của phẫu thuật.

Liệu pháp

Liệu pháp đầu tiên chữa trĩ nội là dùng chế độ dinh dưỡng có nhiều xơ. Khi đại tiện tránh không được rặn, trĩ nặng và đã bị sa thường phải giải quyết bằng phẫu thuật. Trĩ ngoại có huyết khối phải dùng phẫu thuật.

Dùng thuốc

Có rất nhiều thứ thuốc bôi ngoài để giảm các triệu chứng, các thuốc bôi ngoài thường dùng các chất bôi trơn, các chất làm mềm và làm dịu da, có thể kết hợp trong đó một thuốc tê để giảm đau. Khi không có nhiễm khuẩn, có thể kết hợp với corticosteroid, các chất kết hợp này chỉ có tác dụng ngắn hạn. Một số chất khác hay được kết hợp do tính chất làm dịu như: một số muối bismuth, kẽm oxid, resorcinol, bôm Peru, cao cây kim mai

Các bioflavonoid cũng được kết hợp trong các thuốc bôi ngoài, ở một số nước các chất này còn được dùng theo đường uống, và cùng với một số chất khác như calci dobesilat, tribenosid được dùng do tính chất bảo vệ thành tĩnh mạch.

Y học cổ truyền

Từ ngàn đời nay, đông y đã có nhiều phương pháp giúp điều trị trĩ và táo bón hiệu quả:

Ngư tinh thảo (rau diếp cá, rau dấp cá) có thành phần chính là Quercetin, một flavonoid có tác dụng bảo vệ thành mạch rất mạnh. Tinh dầu Diếp cá có chứa decanonyl acetaldehyde có tác dụng kháng sinh mạnh, tiêu diệt cả trực khuẩn mủ xanh, do đó chống viêm nhiễm rất hiệu quả. Cao diếp cá có tác dụng nhuận tràng, chống táo bón rất tốt.

Đương quy là một vị thuốc quý, có tác dụng bổ máu, điều kinh, chống thiếu máu, suy nhược cơ thể. Đương quy có tác dụng hoạt huyết giảm đau, giúp chữa viêm loét, mụn nhọt. Ngoài ra, Đương quy còn có tác dụng nhuận tràng thông đại tiện, chống táo bón.

Rutin là một flavonoid aglycon có nhiều trong hoa Hòe. Rutin có hoạt tính vitamin P, có tác dụng làm bền thành mạch, làm giảm tính “dòn” và tính thấm của mao mạch, làm tăng sự bền vững của hồng cầu, giảm trương lực cơ trơn, chống co thắt. Ngoài ra, rutin còn có tác dụng kích thích sự bài tiết của niêm mạc ruột và do vậy giúp nhuận tràng. Rutin được dùng để phòng ngừa những biến chứng của bệnh xơ vữa động mạch, điều trị suy tĩnh mạch, giãn tĩnh mạch, trĩ, các trường hợp xuất huyết như chảy máu cam, ho ra máu, tử cung xuất huyết, phân có máu….

Curcumin là một hoạt chất chính của củ nghệ (Curcuma domestica), có hoạt tính chống viêm do khả năng quét những gốc oxy có liên quan đến quá trình viêm. Curcumin còn có tác dụng ức chế khối u, thông mật, lợi tiêu hóa. Bổ sung Curcumin giúp chống viêm và làm mau lành các vết tổn thương của trĩ.

Magiê có tác dụng nhuận tràng, giúp hạn chế chứng táo bón vốn là căn nguyên gây bệnh trĩ. Ngoài ra, Magiê còn là một khoáng chất rất cần thiết cho cơ thể.

Người bệnh có thể chọn thuốc trị bệnh trĩ từ các bài thuốc đông dược đã được bào chế thành các dạng thuốc viên rất tiện lợi, thích hợp để tự điều trị bệnh trĩ khi bệnh ở mức nhẹ, có hiệu quả điều trị cao, an toàn và không lo tác dụng phụ. Ngoài ra, cần tránh các chất kích thích như cà phê, rượu, trà, ớt, tiêu. Ăn đủ chất xơ, uống nhiều nước và thường xuyên tập thể dục, thể thao như bơi lội, đi bộ,…

Đông y chữa từ nguyên nhân gây bệnh đây là một trong những ưu điểm của Đông y so với Tây y (y học hiện đại)

Chúng tôi giới thiệu một số bài thuốc hỗ trợ điều trị Trĩ hiệu quả:

 1. Mụn trĩ tiện bí:

Phi tử: 3 - 5 đ/c - sắc lấy nước uống

2. Trĩ nội tiện bí, ra máu đau đớn không yên:

Nhuận trường thông tiện: Dương đề căn tươi: 1 lạng; Thịt mỡ lợn: 4 - 8 lạng (nửa cân); Cùng nầu đến lúc thịt mỡ nhừ nát, bỏ bã thuốc, ăn thịt và uống nước nấu.

3. Mụn trĩ sưn đau ra má:

Lương huyết địa hoàng thang: Sịnh địa tươi: 1 lạng; Đương qui vĩ: 2 đ/c; Xích thược: 3 đ/c; Hoàng Liên: 2 đ/c; Chỉ xác: 2 đ/c; Hoàng Cầm: 3 đ/c; Hòe giác: 3 đ/c; Địa du: 3 đ/c; Kinh giới: 3 đ/c; Thăng Ma: 8 đ/c Thiên hoa phấn: 3 đ/c: Cam thảo sống: 2 đ/c.

Tất cả sắc lấy nước uống.

4. Nhiệt độc huyết lị, lị amip, mụ trĩ ra máu:

Bạch đầu ông: 5 đ/c; Hoàng Liên: 1 đ/c; Hoàng bá: 3 đ/c; Tân bì: 3 đ/c. Tất cả sắc lấy nước uống.

5. Trĩ:

Hòe giác vị đắng vi hàn, công dụng giống như hòe hoa nhưng tính nghiên về hạ giáng cho nên tác dụng trị trĩ tốt hơn hòe hoa. Lượng dùng: 1,5 - 5 đ/c - sắc lấy nước uống.

6. Trĩ nội, phân có máu:

Rễ cương mai tươi (llexasprella champ): 3 lạng; thịt lợn nạc: 5 lạng (khoảng 200 gr), nấu chung ăn thịt, uống nước.

7. Trường nhiệt mụn trĩ ra máu:

Thanh trương tiêu trĩ: Mã đậu linh (Aristocochia contora Bge): 5 đ/c, sắc lấy nước uống

8. Lòi dom - Thoát giang:

Rễ trất mộc từ 4 lạng - nửa cân (8 lạng), loại càng để lâu càng tốt, cùng với 5 tấc trực tràng lợn, hấp cách thủy.

Lấn thứ nhất uống nước, lần thứ 2 uống nước, ăn ruột.
Mỗi ngày 1 tễ, đến khỏi thì thôi.



Thuốc Nam hỗ trợ điều trị bệnh Tai

Nhiều người nghĩ đau họng hay viêm mũi là mấy bệnh xoàng xĩnh, không cần thuốc điều trị cũng tự nhiên sẽ khỏi. Nhưng ít ai biết được rằng, bệnh ở tai mũi họng lại là khởi đầu của rất nhiều bệnh ảnh hưởng đến sức khoẻ. 

Bệnh ở tai mũi họng nguy hiểm vì nếu không điều trị dứt điểm bệnh dễ trở nên mạn tính và là tác nhân gây nhiều bệnh nguy hiểm khác. Chẳng hạn như viêm mũi khi không điều trị dứt điểm có thể gây viêm tai (làm giảm sức nghe và gây ra những biến chứng nặng hơn như viêm màng não, áp xe não, viêm xoang tĩnh mạch bên, liệt mặt...), viêm thanh quản (bệnh làm biến đổi chất giọng) hay viêm xoang, viêm phế quản, viêm phổi. Chứng viêm tai cũng có thể gây tiêu chảy, rối loạn tiêu hoá đôi khi kèm theo suy dinh dưỡng. Trong khi đó viêm xoang lại có thể gây nhiễm trùng ổ mắt, đây là một biến chứng nghiêm trọng, đe dọa thị lực, thậm chí là tính mạng bệnh nhân. Nguy hiểm hơn, vi khuẩn của amidan còn có thể tấn công vào khớp, tim, thận và có thể để lại các biến chứng khôn lường như viêm cầu thận cấp, thấp khớp, thấp tim, viêm tim...
Tai mũi họng là cửa ngõ của đường thở nên những trục trặc ở bộ phận này có thể gây tắc thở nhanh chóng. Viêm họng cấp, viêm phế quản cấp ở trẻ em, dị vật... là những bệnh phải điều trị sớm nhất có thể.

Dưới đây một số bài thuốc hỗ trợ điều trị các bệnh liên quan tới Tai:

1. Cấp mãn viêm tai giữa:

Mã bột:     2 đ/c ; Bạc Hà:      1 đ/c ; Cát cánh:   3 đ/c ; Liên kiều: 3 đ/c ;  Hạnh nhân: 2 đ/c

Tất cả các vị trên đem sắc lấy nước uống

2. Cấp tính viêm tai giữa:

Bán biên liên tươi giã nát vắt lấy nước cốt tự nhiên, thêm chút ít rượu nóng nhỏ vào trong tai.

3. Tai điếc:

Đông quỳ tử toàn thảo, Hổ nhĩ thảo mỗi thứ 7 đ/c, Thạch xương bồ 3 đ/c, Vương bất lưu hành 4 đ/c. Tất cả sắc lấy nước uống.