BẾ TINH, DƯỠNG KHÍ, TỒN THẦN

THANH TÂM, QUẢ DỤC

THỦ CHÂN, LUYỆN HÌNH

Showing posts with label Thiền. Show all posts
Showing posts with label Thiền. Show all posts

Khí Công là Gì? Khí Công có tác dụng như thế nào tới Sức khỏe?

 Khí công là gì ?

Là các phương pháp tập để tăng khí trong cơ thể. Vận động gân cơ xương, lục phủ ngũ tạng nhằm thông "đường đi" cho khí trong cơ thể. Việc vận động và hít thở tập trung cho khai thông kinh mạch.Việc hít thở trong khí công lúc tập khí công động , lúc tĩnh công thì chú tâm nhiều đến cách vận khí.

"Khí" người Trung Hoa phát âm là "Chi" hay "Qi", "Ki" ở người Nhật Bản, "Ghee" ở người Đại Hàn và "Prana" ở người Ấn Độ. "Khí" nghĩa thông thường có liên quan đến "Không khí" hoặc "Chất Hơi", một chất không hình, dễ di động, dễ phân tán, dễ tích tụ, tính co dãn có thể tạo nên sức ép lớn mạnh, tùy theo số lượng của nó. Còn ý nghĩa cao hơn nó là năng lượng vô hình mang lại sự sống cho sinh vật và con người trên trái đất. Năng lượng siêu hình..

"Công" do chữ "công phu", người Trung Hoa phát âm là "Kungfu", có nghĩa là việc làm được thực hiện trong một số lượng thời gian.

Do đó, "khí công" có thể hiểu là một tiến trình luyện tập  từ thấp lên cao nhằm thu hút khí trời đất vào cơ thể nhằm kéo dài tuổi thọ , giảm và chữa bệnh.  Trong võ thuật hít thở phổi là hít thở không khí, để gia tăng nguồn sinh lực của thể chất lẫn tinh thần trong con người. Trong đó, "dưỡng khí" (oxygen) được hấp thụ qua không khí, và "thán khí" (carbon dioxide) được loại trừ ra ngoài cơ thể. Đây là hai yếu tố chính yếu trong việc gia tăng nguồn sinh lực cơ thể.

Trong võ thuật cổ truyền đông phương, khí công còn được gọi là "nội công", một công phu tập luyện "tán tụ nội khí", triển khai tối đa sức mạnh thể chất lẫn tinh thần, để áp dụng vào kỹ thuật chiến đấu, cũng như gia tăng sức khỏe thân tâm.

II. Lược Sử Khí Công:

Trong ý nghĩa quân bình hơi thở, khí công được bắt nguồn từ thuở xa xưa, từ khi có sự hiện diên loài người trên quả đất này. Căn cứ vào văn hóa cổ truyền đông phương, khí công đã được áp dụng qua các phương pháp thực hành, và triết lý dẫn đạo, hầu hết, trong ba môn học: Y học, Đao học, và Võ học.

Theo y như Hoàng Đế Nội Kinh (2697 – 2597 B.C. trước Tây Lịch), và sách Dịch Kinh (2400 B.C. trước Tây lịch), nền tảng Đông Y học được dựa trên lý thuyết nguồn khí lực, Âm Dương và Ngũ Hành để lý giải, điều trị bệnh tật và tăng cường sức khỏe con người.

Vào thời nhà Thương (1783 – 1122 B.C trước Tây lịch), người Trung Hoa đã biết dùng những dụng cụ bén nhọn bằng đá, để châm chích vào các huyệt đạo trên cơ thể, nhằm gây ảnh hưởng đến sự dẫn truyền nguồn khí lực, trong việc trị bệnh cho con người.

Vào thế kỷ thứ 6 trước Tây lịch, trong cổ thư Đạo Đức Kinh, tác giả Lão Tử, một nhà hiền triết Trung Hoa, đã đề cập đếnn vai trò hơi thở trong kỹ thuật luyện khí, để giúp con người kéo dài tuổi thọ. Sử liệu Trung Hoa cũng cho thấy rằng các phương pháp luyện khí đã có nhiều tiến bộ, vào thời Xuân Thu và Chiến Quốc (770 – 221 B.C. trước Tây lịch). Sau đó, trong thời nhà Tần đến nhà Hán (221 B.C. trước Tây lịch đến 220 A.C. sau Tây lịch), một số sách dạy luyện khí công đã được biên soạn bởi nhiều vì y sư, thiền sư và đạo sĩ. Các phương pháp truyền dạy tuy có khác nhau, nhưng vẫn có chung những nguyên lý vận hành khí lực trong cơ thể.

Vào thế kỷ thứ ba sau Tây lịch, nguyên lý về khí lực đã được minh chứng hiệu quả bởi y sư Hoa Đà, qua việc áp dụng kỹ thuật châm cứu, để gây nên tình trạng tê mê cho bệnh nhân, trong lúc giải phẫu. Cũng như, ông đã sáng chế những động tác tập luyện khí "Ngũ Cầm Hí", dựa theo tính chất và động tác của 5 loại thú rừng như: Cọp, Nai, Khỉ, Gấu và Chim.

Vào năm 520 – 529 sau Tây lịch, tổ sư Bồ Đề Đạt Ma, người Ấn Độ, tại Tung Sơn Thiếu Lâm Tự, tỉnh Hồ Nam, ngài đã soạn ra sách Dịch Cân Kinh, đ dạy các môn đồ phát triển nguồn khí lực, tăng cường sức khỏe trên đường tu đạo, cũng như, thân thể được cường tráng, gia tăng sức mạnh trong việc luyện võ.

Về sau, dựa vào nguyên lý khí lực này, các đệ tử Thiếu Lâm đã sáng chế thêm những bài tập khí công như: Bát Đoạn Cẩm, Thiết Tuyến Nội Công Quyền, Nội Công Ngũ Hình Quyền...

Theo truyền thuyết, vào triều đại nhà Tống (950 – 1279 sau T.L.), tại núi Võ Đang, đạo sĩ Trương Tam Phong sáng chế bài nội công luyện khí Thái Cực Quyền, gồm những động tác giúp người tập luyện cường kiện sức khỏe thân tâm.

Về sau, có rất nhiều bài tập khí công được sáng chế bởi nhiều võ phái khác nhau. Dần dần, các võ phái nhỏ, ít người biết đến, đều bị mai một, cùng với những phương pháp truyền dạy bị lãng quên trong quá khứ. Đến nay, một số ít các bài võ luyện khí công còn được ghi nhận qua một số tài liệu hạn hẹp của Trung Hoa như: Dịch Cân Kinh, Bát Đoạn Cẩm, Thiết Tuyến Nội Công Quyền, Nội Công Ngũ Hình Quyền, Thái Cực Quyền thuộc ba hệ phái của Trần Gia, Dương Gia và Vũ Gia, Bát Quái Quyền, Hình Ý Quyền, Lục Hợp Bát Pháp Quyền... 

“Sức khỏe là Vàng” - thông thường mọi người đều nói như thế. Đúng vậy! Thực ra sức khỏe là vốn quý của con người, không thứ gì có thể mang ra để so sánh hay đánh đổi với nó.

Nhưng thực tế, do quá trình mưu sinh hoặc do nhận thức, thông thường chỉ khi nào sức khỏe bị đe dọa hay đau ốm tới mức phải đi bệnh viện, thì ta mới thấy được hay hiểu hết giá trị vô song của nó.

Để làm cho “Sức khỏe” trở thành là “Vàng” thì chỉ có một cách thức duy nhất đó là, mọi người phải tập thể dục, thể thao – nhằm nâng cao sức khỏe, không những chỉ cho bản thân mình, mà còn cho mọi người trong gia đình.

Trải qua hàng nhìn năm, y học ngày nay đã nhận thấy phương pháp tập luyện thể thao bằng phương pháp tập “Khí công – dưỡng sinh” là một trong các phương pháp hiệu quả tuyệt vời đối với sứ ckhoer.

Sự tuyệt vời, được thể hiện nhiều góc độ. Nhưng chỉ xét đến một vài khía cạnh sau thôi, cũng để chúng ta cần thiết nên bắt đầu tập ngay từ bây giờ: 
 
1. Khí công động đem đến sự khỏe mạnh, dẻo dai, linh hoạt ngay cả khi bạn đã nhiều tuổi – chắc là các cách thức tập thể dục thông thường khác, không thể có được.

2. Không chỉ tác động về các hệ thống trong cơ thể, mỗi thức khí công tác động, sẽ giúp cho các bạn đả thông từng kinh mạch, khi kinh mạch thông – thì bạn sẻ hêt́ bệnh…

3. Với tất cả độ tuổi, các bạn (từ trẻ - đến già) đều có thể tập luyện, và kết quả là sự thay đổi về chất. Nếu trẻ, các học tập sẽ nhanh hơn, minh mẫn hơn nhiều, với người cao tuổi, thì các bạn có thể kéo dài tuổi xuân, với cùng trang lứa - các bạn sẽ nhanh nhẹn hơn và đặc biệt sẽ trẻ hơn khá nhiều tuổi….
 
Thông tin trên đây, mới đề cập đến tầm quan trọng cực kỳ về sức khỏe của bạn và vai trò của “Khí công dưỡng sinh”. Nhưng trong thực tế hiện nay, có nhiều bạn đam mê học tập khí công, nhưng không biết rõ tài liệu, phương pháp tập thế nào là đúng/sai? Dẫn đến, không dám tập hoặc tập mãi vẫn không có kết quả.

Nếu làm đúng phương pháp thôi, các bạn sẽ có kết quả thật tuyệt vời!

Với những gì có được do tập luyện đến ngày hôm nay, tôi đưa dần một số phương pháp và bài tập Khí Công len website này, với mong muốn là chia sẻ với tất cả những ai cùng có sự quan tâm đến sức khỏe của bản thân mình – tất cả sự hiểu biết và thực tế cách thức tập luyện đúng cách, và nếu sau một thời gian, các bạn cảm thấy kết quả tuyết vời đến với bản thân mình, các bệnh tật thuyên giảm và khỏi hẳn – thì hãy cùng chúng tôi, truyền đạt thông điệp “Sức khỏe là Vàng ” đến cho người thân, cho bạn bè và cả những ai mà bạn có thể giúp đỡ được.

Bài tập "Xả Thiền"

Hướng dẫn thực hiện

1.  Hít sâu bằng mũi, rồi hé miệng thở sạch 3 hơi. Hít vô tưởng như máu huyết theo hơi thở lưu thông khắp cơ thể. Thơ ra tưởng như phiền não, bệnh hoạn, cấu uế theo hơi thở ra ngoài. Xả thiền mọi hơi thở, động tác đều từ nhẹ đến mạnh.

2.  Động hai bả vai lên xuống, mỗi bên 5 lần.

3.  Động cái đầu, cúi xuống ngước lên 5 lần.

4.  Xoay đầu sang phải, sang trái mỗi bên 5 lần.

5.  Ngước lên cúi xuống 1 lần cuối.

6.  Động hai bàn tay, xòe nắm 5 lần.

7.  Động thân từ nhẹ tới mạnh 5 lần. Lần thứ 5 dời hai bàn tay ra hai đầu gối, nhấn mạnh xuống

8.  Xoa mặt 20 lần.

9.  Xoa hai lỗ tai 20 lần.

10.  Xoa đầu 20 lần.

11.  Xoa sau gáy 20 lần.

12.  Xoa cổ 20 lần.

13.  Dùng bàn tay phải xoa từ vai xuống cánh tay, bàn tay trái xoa từ nách xuống bên hông, hai tay kết hợp xoa một lượt, mỗi bên 10 lần.

14.  Lòng bàn tay phải đặt lên ngực, lưng bàn tay trái trên lưng, hai tay kết hợp xoa một lượt (xoa ngang). Xoa ba điểm: ngực, bụng, bụng, dưới, mỗi chỗ 5 lần.

15.  Xoa bụng và bụng dưới.

16.  Dùng hai bàn tay xoa thắt lưng, mông, đùi, (tùy theo đau nhiều hay ít mà xoa, không có số lượng).

17.  Xoa mông.

18.  Hai bàn tay cùng xoa mạnh từ đùi đến bàn chân.

19.  Chà nóng lòng bàn chân. Xoa chân này xong rồi đổi sang chân kia, xoa tùy thích không có số lượng.

20.  Duỗi thẳng hai chân ra.

21.  Thân rướn về phía trước, các ngón tay vừa chạm các ngón chân 5 lần.

Chú ý:  Khi xả thiền, mọi động tác xoa bóp đều phải ấn mạnh vào da thịt, nhưng đừng thô ồn. Thời gian ngồi thiền tùy theo hoàn cảnh hay điều kiện của từng người mà ngồi lâu hay ít. Ngồi càng lâu thì xả thiền xoa bóp càng kỹ, giúp các mạch máu được lưu thông, gân cốt mềm dẻo, tránh bị bệnh thần kinh tọa.

"Phép Dưỡng Sinh" - Đơn giản và hiệu quả! - Phần 7: Về tinh thần

VII. VỀ TINH THẦN

Ông không chỉ nhắc nhở về dưỡng sinh theo tạng phủ, kinh mạch, mà còn nhắc nhở về dưỡng sinh tinh thần, ông nói: Nhưng nếu không trừ lục hại, không giữ được thập thiểu (những lời khuyên về đạo đức, tác phong) thì tuy luyện tập dưỡng sinh kinh mạch, tạng phủ, có thể giảm bớt được bệnh tật, nhưng cuối cùng là đạo lớn thì mệt mỏi. 

Ông giải thích về lục hại và thập thiểu:

A. Như thế nào là lục hại (sáu cái có hại)?

  • Nhất viết: Bạc danh lợi (coi nhẹ cái danh và cái lợi).
  • Nhị viết: Cấm thanh sắc (cấm sa đà vào lời nói khéo và sắc đẹp).
  • Tam viết: Liêm hóa tài (giũ trong sạch về tiền và của).
  • Tứ viết: Tổn tư vị (giảm bớt thức ăn nhiều béo bổ).
  • Ngũ viết: Bình hư vọng (dẹp những mong muốn hão huyền).
  • Lục viết: Trừ tật đố (bỏ hẳn thói ghen ghét đi).
Ông nói: “Sáu cái đó mà còn vướng một là chưa hợp vệ sinh. Tuy lòng cầu mong diệu lý, miệng niệm chân kinh, mồn nhai anh hoa (đồ ăn tinh túy), thở hít cảnh tượng, cũng không thể bổ thêm cái đã mất”.

B. Như thế nào là thập thiểu (mười cái nên giữ ở mức độ ít)?

  • Nhất viết: Thiểu tư (ít lo nghĩ).
  • Nhị viết: Thiểu niệm (ít tự nhắc nhở thầm điều gì đó).
  • Tam viết: Thiểu tiếu (ít cười cợt).
  •  Tứ viết: Thiểu ngôn (ít lời).
  • Ngũ viết: Thiểu ẩm (ít uống rượu).
  • Lục viết: Thiểu nộ (ít cáu giận).
  • Thất viết: Thiểu lạc (ít vui mừng).
  • Bát viết: Thiểu sầu (ít buồn rầu).
  • Cửu viết: Thiểu hảo (ít ham thích).
  • Thập viết: Thiểu cơ (ít quá đói).
Bởi vì: Phàm nghĩ nhiều thì thần tán, (tư tưởng phân tán).

            Nhắc nhở nhiều thì tâm lao (tim bị mệt).

            Cười nhiều thì phế phủ phiên (phổi bị nghiêng lệch).

            Nói nhiều thì khí huyết hư hao.

            Uống rượu nhiều thì thương thần (hại thần) tổn thọ.

            Cáu nhiều thì tấu lý bôn phù (lỗ chân lông nếp nhăn nổi chạy).

            Vui nhiều thì tâm thần tà đãng (tâm thần lệch lạc).

            Rầu rĩ nhiều thì đầu diện tiêu khô (đầu mặt bơ phờ).

            Hám nhiều thì chí khí hội tán (chí khí tan vỡ).

            Đói nhiều thì trí lự trầm mê (mất khả năng suy nghĩ).

Ông nói: “Đây là những thứ tìm người để sống, nó rất búa rìu, tính chất ăn người ta mạnh như lang sói. Người vệ sinh phải tránh cái đó!”.

Hết !

"Phép Dưỡng Sinh" - Đơn giản và hiệu quả! - Phần 6: Về Nhâm Đốc

VI. VỀ NHÂM, ĐỐC

Thường người ta sống phải dưỡng ở gốc, giữ gìn ở nguồn.

Đốc thì từ Hội âm mà đi lên lưng. Nhâm thì từ Hội âm mà đi lên bụng.


Thân người ta có Nhâm, Đốc, bởi vì thiên, địa có Tý, Ngọ. Nhâm, Đốc ở thân người ta là lấy lưng, bụng mà nói. Tý, Ngọ của trời đất là lấy Nam, Bắc mà nói. Có thể chia ra, có thể hợp lại, phân ra để thấy âm dương không lẫn lộn, hợp lại để xét bàn không có khoảng cách. Một mà là hai. Hai mà là một.


Người ta hiểu rõ về Nhâm, Đốc, có thể giữ được thân. Cũng như Vua sáng suốt có thể chăm dân để yên nước. Dân chết thì nước mất, Nhâm suy thì thân tàn.
Hiểu rõ về Nhâm, Đốc có thể giữ được thân

Đã là thượng nhân, triết sĩ hẳn phải theo lời dặn ngày xưa, đạo dẫn các kinh (lấy ý dẫn khí đi theo các kinh mạch), điều dưỡng thành thục thì nhà Tiên có thể chắc nền móng (khí huyết lưu thông là nền móng của tuổi thọ), rồi sau đó quét trừ vọng niệm (ý nghĩ tự nảy sinh lung tung, không đầu đuôi, không định sẵn), lấy tĩnh định (ngồi im giữ được sự vắng lặng trong tâm thức) làm cơ bản mà thu cái nhìn về gần (hoặc như nhìn thấy tại Ấn đường, hoặc như nhìn thấy tại đầu chót mũi là cái nhìn về gần), nghe lại gần, chứa ánh sáng lờ mờ (trước mắt thấy như một vầng nửa sáng nửa tối), điều hơi thở êm êm, nắm vững chắc bên trong (luôn lưu ý vùng đan điền, không dời đi nơi khác), chú ý tới cái “huyền”, khoảnh khắc như lửa phát trong nước, hoa nở trong tuyết, hai cái thận như được đun sôi lên, bàng quang như lửa nóng, Nhâm, Đốc như cái xe bằng lửa lăn (hỏa xa luân), tứ chi tựa như núi đá. Khoảng chừng như uống một ngụm nước, thiên cơ tự động nhè nhẹ mà xoay, im lặng mà nâng, hơi có ý định một tý, thì kim, thủy tự nhiên trộn lẫn (phế khí trộn với thận khí), thủy, hỏa tự nhiên thăng giáng (tâm khí và thận khí thăng giáng ký tế cho nhau… Đây là nội dung mà các nhà luyện khí công lấy làm cơ bản nhất).

(Còn tiếp)

"Phép Dưỡng Sinh" - Đơn giản và hiệu quả! - Phần 5: Về Thận

V. VỀ THẬN

Người ta bẩm (được nhận) khí của Trời Đất (năng lượng vũ trụ) mà có sự sống. Cái tinh của Thái cực ngụ ở đó. Như ta vững vàng, đầy đủ, và lớn mạnh giữa trời và đất.

Con người lấy tình để dụ dỗ, lấy vật để lôi kéo, lấy cái hữu hạn đó để làm trời thật, theo cái không cùng để phóng túng lòng dục, tiêu hao ngày càng quá lắm. Trong không có chủ thì một bầy tà thừa, mà bách bệnh hoành hành. Như một cái động mở bốn cửa để nạp đầy thêm, mấy nỗi mà không đưa đến hại?

Thường làm chủ được thân mình thì doanh vệ đi khắp vòng quanh, tà không thể tự nhập. Cái phong, hàn, thử, thấp kia, ví như ta có thành vững chắc, nó chỉ như kẻ cướp ở ngoài. Tuy gót chân chúng luôn đến nhòm ngó, nhưng nghiệt thay! Làm sao mà chúng đạt được mong muốn bừa bãi? Nếu đi gọi thầy thuốc án mạch, theo phương làm tễ, liệu bỗng chốc mà thu được công hiệu làm cho trở lại như cũ mà không bị hư hỏng hay không? Nếu để kẻ cướp đến mới ngăn cản, làm sao bằng như không có kẻ cướp để không phải ngăn cản? Bệnh đến mà phải chữa, làm sao bằng không có bệnh để mà không phải chữa? Cũng như việc cầu kim thạch hiếm quý mà thường mắc cái bệnh bất túc, làm sao được như cầu cái tinh của thân ta mà ta hằng tự có thừa?

Tiên Thánh nói: “Trời Đất đại quý là châu ngọc, thân người đại quý là Tinh, Thần”.

“Nội Kinh” nói: “Người con trai, con gái mà đại dục thì còn gì?”. Thật thà mà nói, có thể lấy cái lý để hạn chế dục, để giao ngự tình. Tuy sắc đẹp ở ngay trước mặt, chẳng qua cũng vui mắt, thỏa chí mà thôi. Làm sao có thể phóng túng cái tình để chôn cái tinh? Cho nên nói: “dầu hết thì đèn tắt, tủy kiệt thì người không còn, thêm dầu thì đèn cháy to, bổ tủy thì người mạnh”.

"Tuy sắc đẹp ở ngay trước mặt, chẳng qua cũng vui mắt, thỏa chí mà thôi"
Lại nói, tháng đông trời bế, khí huyết tàng, dương ẩn ở trong, vùng tâm và cách nhiều nhiệt, nhất thiết tránh ra mồ hôi để tiết dương khí (không dùng phép phát hãn), như thế nói là bế tàng. Khi nước đóng băng, đất rạn nứt, không nhiều dương, đi nằm sớm, dậy muộn, tất phải đợi mặt trời sáng (ban ngày sáng rõ), làm cho chí như ẩn náu, như có ý riêng tư, đã bỏ lạnh sẽ được nóng, không tiết bì phu (không để lộ da ra lạnh), làm cho cấp thiết đoạt lấy khí, đó là ứng với khí mùa động. Đó là đạo dưỡng tàng, ngược lại thì hại thận, đến mùa xuân thì nuy quyết (liệt bại).

(Còn tiếp)

"Phép Dưỡng Sinh" - Đơn giản và hiệu quả! - Phần 4: Về Can

IV. VỀ CAN

Can lấy mắt làm huyệt, người ta ngủ thì huyết quy về can, mắt nhờ đó mà có thể nhìn thấy. Thường khi ngủ có cái hỏa nghi ngờ không có tên (vô danh hoặc phức chi hỏa) nó xen kẽ, không thể chùng giãn ra để mà ngủ, cũng vẫn phải đi ngủ. Nếu như đảm hư hàn mà không ngủ thì tinh thần mệt mỏi, chí lại không an. Can thực nhiệt mà ngủ quá nhiều thì tuệ kính sinh bụi (trí khôn bị mờ), thiện căn chôn đi mất (tính tình biến thành hung ác). Tất cả đều do không điều can, đảm; nằm sấp mà ngủ là ma đạo.

Nay nếu ra mấy điều cần thiết: Không cáu giận, không ngủ ngày. Ngủ là hình, không ngủ là thần. Tinh của cái ngủ cũng là cái linh của thần.

Người ta ít ngủ thì về già tính tình và tri thức sáng sủa, sạch sẽ, không những thần khí tươi mát, sảng khoái mà giấc mộng cũng yên. Nếu như tham ngủ thì máu chảy về tim, nguyên thần dời chỗ ở, không chỉ che bịt mất tính trời, thần cũng theo cảnh mà hôn mê.

Tính tình vui vẻ, thần khí tươi mát, sảng khoái
“Nội Kinh” nói: “Ba tháng mùa xuân, đó là phát trần (?), trời đất bắt đầu sinh, vạn vật đã tươi tốt, đêm nằm, ngày dậy, rộng bước ở sân (đi bách bộ, đi dạo), xõa tóc (ngày xưa búi tóc phải mở ra cho thoáng), thả lỏng thân hình, đã làm cho chí sinh. Đó là ứng với khí mùa xuân. Đó là đạo dưỡng sinh.
Đi bách bộ, thả lỏng thân hình

Ngược lại là thương can (hại gan).

 (Còn tiếp)

"Phép dưỡng sinh" - Đơn giản và hiệu quả - Phần 3: Về Tâm

III. VỀ TÂM
 
   Tâm là chủ soái của toàn thân, đầu đường sinh tử. Tâm sống thì mọi thứ muốn sống, mà thần không nhập khí (thần không biến vào hơi thở). Tâm tĩnh thì mọi thứ muốn tĩnh, mà thần với khí hòa hợp nhau (bao bọc nhau). “Nội Kinh” nói rằng: Tháng hạ, thân người ta phát dương khí ra ngoài, dấu âm khí ở trong, là lúc thoát tinh thần, tránh lưu thông (giao hợp nam nữ) làm tiết tinh khí. Ba tháng mùa hạ nói chung, khí thiên địa giao nhau, vạn vật hóa thực (lớn mạnh), “đêm nằm dậy sớm, không ngán ban ngày”, làm cho khí không giận dữ, khả năng biến thành tài năng. Đó là ứng với khí mùa hạ, phải dưỡng thành cái đạo như thế. Làm ngược lại thì tổn thương tâm, đến mùa thu dễ sinh khái ngược (một loại sốt dai dẳng), cho nên, người ta thường ngồi yên tĩnh, điều nhịp thở ở tim, ăn nóng, tránh lạnh, thường “buông mi che mắt, đem ánh sáng chiếu vào trong, giáng tâm hỏa xuống đan điền”. (nghĩ như nhìn thấy đan điền), làm cho thần và khí hòa hợp nhau. Thái Huyền Dưỡng Sơ viết: Tâm tạng ở sâu, đúng là cái gốc của sự nhanh nhạy, thần không ngoài chỗ đó, tâm bị lôi kéo ở việc thì hỏa động ở trong.
Tâm hỏa ở mùa hạ bảo làm chính vượng, mạch vốn hồng, đại. Nếu như mạch hoãn là thương thử, đến đêm không nên ăn nhiều, ngủ không nên quạt, vì dễ bị gió độc.

(Còn tiếp)

"Phép Dưỡng Sinh" - Đơn giản và hiệu quả! - Phần 2: Về Tỳ

II. VỀ TỲ

Tỳ ở giữa ngũ tạng; gửi vượng trong bốn mùa (tứ quý: đoạn cuối của bốn mùa), chứa ngũ vị mà nuôi lớn, năm thần nhân đó mà lộ rõ ra ngoài, tứ chi, bách hài (trâm đốt xương và tay chân) dựa vào đó mà vận động.

Người ta chỉ do ăn uống không điều độ, làm mệt mỏi quá sức thì tỳ khí bị thương (bị hại); tỳ vị cùng bị thương thì ăn uống không tiêu hóa, miệng không biết mùi vị, tứ chi mệt mỏi, bụng trên đầy trướng, làm mửa, làm ỉa, làm tích ở ruột, những điều đó sách Nội Kinh đều chép đủ, nên tìm đọc để biết.

Đã không đói mà ăn mạnh thì tỳ mệt, không khát mà uống mạnh thì dạ trướng. Ăn quá no thì khí mạch không thông, làm cho tâm bí tắc; ăn quá ít thì thân gầy, tâm bâng khuâng, ý nghĩ không vững chắc. Ăn vật tanh trọc thì tâm thức hôn mê, muống ngồi tưởng nhớ (niệm) cũng không yên; ăn vật không phù hợp thì tứ đại ly phản (khí, huyết, tân, dịch rời nhau) mà động đến bệnh cũ, đều không phải là vệ sinh.

Nêu một câu để làm ví dụ. “Ăn tất phải có giờ, uống tất phải có mức”, “không no không đói là được”. Người ta ăn uống như vậy, không chỉ tỳ vị thuần sạch mà ngũ tạng, lục phủ cũng điều hòa.

Ăn uống điều độ, không chỉ tỳ vị thuần sạch mà ngũ tạng, lục phủ cũng điều hòa.

Kinh nói rằng: “ Tỳ thổ vượng có thể sinh ra vạn vật, suy thì sinh ra bách bệnh”.

Ngày xưa Đông Pha (Tô Đông Pha, nhà tư tưởng, nhà thơ lớn của Trung Quốc) điều tỳ thổ, ăn uống không quá một chén rượu, một miếng thịt, có người mời ép ăn uống, ông thưa tránh rằng: “Một là, an phận để dưỡng phúc; hai là, khoan vị để dưỡng khí; ba là, giảm phí để dưỡng của”.

Người muốn giữ vệ sinh thì dưỡng ở trong, người không muốn giữ vệ sinh thì dưỡng ở ngoài. Người dưỡng ở trong thì tạng phủ yên ổn, điều thuận huyết mạch. Người dưỡng ở ngoài thì rất chăm nếm thứ ngon, hết mức ăn uống cho sướng miệng, tuy cơ thể béo đẫy, nhưng khí thì khốc liệt gậm hết tạng phủ ở trong.

(Còn tiếp)

"Phép Dưỡng Sinh" - Đơn giản và hiệu quả! - Phần1: Về Phế

Người thầy thuốc trước hết phải biết gương mẫu thực hiện phép dưỡng sinh, lấy kết quả luyện tập dưỡng sinh ở chính bản thân mình làm hình ảnh chứng minh, đồng thời phải giúp người bệnh nhận ra những nguyên nhân đưa đến bệnh tật cho họ, phải hướng dẫn cách phòng ngừa, để sau khi khỏi bệnh, người bệnh có thể tự mình giữ gìn, không để bệnh tái phát.
Dương Kế Châu, danh y đời Minh ở Trung Quốc, tác giả bộ sách "Châm cứu đại thành" là một trong những thầy thuốc rất coi trọng dưỡng sinh cả về mặt thể chất và tinh thần, chúng tôi xin lược trích những nét chính yếu ông đã viết để cùng tham khảo như sau:

I. VỀ PHẾ
Phải luôn giữ nhịp thở đều
Phế thấy rõ là cái che đậy ngũ tạng, tiếng nói từ đó mà ra, da dẻ dựa vào đó mà được sáng nhẵn, Người ta chỉ vì nội thương thất tình, ngoại cảm lục dâm (trong thì bảy loại tình cảm day dứt gây hại, ngoài thì nhiễm sáu thứ khí trời quá mạnh gây bệnh) mà sinh thở ra hít vào không yên bình, phế kim do đó mà không sạch. Cho nên muốn kim sạch sẽ, trước hết phải giữ cho nhịp thở đều, thở đều thì động nạn chẳng sinh, tâm hỏa tự yên. Một là, phải an tâm xuống; hai là, thả lỏng cơ bắp trong thân mình; ba là, luôn nghĩ rằng khí ra vào ở tất cả các lỗ chân lông, thông không trở ngại, chú ý làm cho hơi thở nhè nhẹ, đó là cách thở đúng. Thở bắt đầu từ tâm, tâm tĩnh thì khí đều, từng hơi thở đều quay về gốc, đó là mẹ của kim đan (kim đan là thuốc trường sinh)…

Mùa thu nên kiêng ăn các loại quả họ dưa (dưa, bí, mướp).

Mùa thu thấy ấm chân, mát đầu, đó là lúc khí được thanh túc (sạch sẽ nghiêm chỉnh), và cơ thể được thu liễm (được gom vào). Từ ngày hạ chí trở đi, âm khí vượng dần, chiếu mỏng, áo mỏng nên bồi thêm nền thọ.

“Mật pháp” dặn rằng: “Đi, ở, nằm, ngồi thường ngậm miệng, thở ra hít vào cho điều hòa nhịp; ít nói, cam tân ngọc dịch (nước miếng) xuống họng đều đều, không lúc nào phổi không nhuận (ẩm ướt), làm cho tà hỏa giáng xuống mà phế kim được mát”.

(Còn tiếp)

Thiền để tăng cường sức khỏe và nâng cao hiệu quả công việc

Nhìn mặt hồ nước, khi mặt hồ yên tĩnh, trong xanh ta dễ dàng nhìn rõ được mọi vật dưới đáy, ngược lại, khi làn nước gợn sóng, hình ảnh sẽ bị phản chiếu lệch lạc. Bộ não con người cũng giống như mặt nước, khi tinh thần yên tĩnh, tập trung, tâm trí sẽ sáng suốt, trái lại, khi có tạp niệm xen vào hoặc lúc lo âu căng thẳng, sự phán đoán sẽ kém chính xác. 

Trong điều kiện phát triển của nền văn minh công nghiệp với tính cạnh tranh cao, con người luôn phải đối mặt với nhiều loại áp lực thì việc phải gánh chịu stress làm giảm sức đề kháng và dễ dẫn đến nhiều bệnh tật là điều đáng lo ngại. Sự căng thẳng sẽ làm mệt bộ não, cơ thể tiêu phí nhiều năng lượng mà việc giải quyết công việc lại kém hiệu quả. Một sinh viên thiếu tập trung sẽ khó tiếp thu bài giảng, một công nhân đứng máy lơ đễnh sẽ dễ mắc tai nạn lao động, một nhà nghiên cứu mà tinh thần không ổn định sẽ khó có thể hoàn thành công trình của mình. Từ những thực tế này nhiều người đã tìm đến với thiền.

THIỀN LÀ GÌ?

Hiểu một cách đơn giản, Thiền là phương pháp giúp ta hình thành thói quen tập trung tư tưởng để làm đúng công việc mà chúng ta muốn làm và đang làm. Đặc biệt thiền giúp điều chỉnh lại tình trạng mất cân bằng giữa hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh do quá trình sinh hoạt và làm việc căng thẳng gây ra.

Có nhiều phương pháp thiền khác nhau (thiền tĩnh, thiền động, v.v...), nhưng tựu trung vẫn là giúp người luyện tập có thể tập trung chú ý vào một điểm ở trong hoặc ngoài cơ thể, vào một đề tài, một hình ảnh hoặc một câu "chú" nhất định nhằm đưa cơ thể tiến dần vào tình trạng nhập tĩnh khi tâm không còn bất cứ ý niệm nào.
 
CÁC BƯỚC THÔNG THƯỜNG CỦA MỘT LẦN NGỒI THIỀN

1. Chuẩn bị: 

Trước khi ngồi thiền, cần hoàn tất các công việc thường nhật trong ngày để tư tưởng không vướng bận; Tắm rửa sạch sẽ, nới lỏng quần áo; Chọn nơi yên tĩnh, thoáng mát, không có ruồi muỗi.
2. Tư thế:

Có thể chọn tư thế ngồi xếp bằng thông thường, ngồi bán già hoặc ngồi kiết già, thậm chí có thể ngồi trên ghế tư thế ngay ngắn, hoặc thậm chí đứng thiền (thiền động).

Lưng thẳng, cằm hơi đưa vào để cột sống được thẳng. Đầu lưỡi chạm nhẹ lên hàm răng trên. Hai bàn tay buông lỏng đặt trên hai đùi, cũng có thể chắp hai tay trước ngực hoặc đan chéo nhau để trước bụng, miễn sao hai tay cảm thấy thoải mái, dễ giãn mềm cơ bắp là được.
Tư thế kiết già (thế hoa sen), đặc biệt thích hợp cho việc ngồi thiền: Ngồi xếp bằng tự nhiên, dùng hai bàn tay nắm bàn chân phải từ từ gấp chân lại và đặt bàn chân lên đùi trái, gót chân ép sát bụng, lòng bàn chân ngửa lên trời. Kế tiếp dùng hai bàn tay nắm bàn chân trái gấp lại, đặt bàn chân trái lên đùi phải, kéo nhẹ gót chân vào sát bụng, bàn chân ngửa lên trời.
Các đạo sư Yoga cho rằng tư thế khóa nhau của hai chân trong thế kiết già sẽ tạo sức ép lên hai luân xa ở dưới cùng của cơ thể, khiến dòng năng lượng có khuynh hướng đi lên để nuôi dưỡng các trung tâm lực dọc theo cột sống và kiểm soát toàn bộ hệ thần kinh.

Những thí nghiệm khoa học về Yoga cho thấy chỉ cần ngồi tư thế hoa sen, dù ta không cố gắng tập trung tư tưởng, vẫn có một sự thay đổi ở sóng não từ nhịp Beta khoảng 20 chu kỳ mỗi giây xuống nhịp Alpha khoảng 8 chu kỳ mỗi giây. Nhịp Alpha là tình trạng sóng não của một người đang trầm tĩnh và minh mẫn. Điều này có nghĩa là tự thân tư thế kiết già đã có công năng làm êm dịu thần kinh chưa kể đến những cố gắng khác của việc ngồi thiền.
 

Kết quả trên cũng phù hợp với những lý luận của y học cổ truyền khi biết rằng ở thế kiết già, xương mác ở cẳng chân trái đã tạo một sức ép khá mạnh lên đúng vị trí huyệt Tam âm giao ở chân phải (huyệt Tam âm giao ở chỗ lõm bờ sau xương chày, trên mắt cá chân trong khoảng 6cm). Như vậy, trong suốt thời gian ngồi kiết già, huyệt Tam âm giao sẽ được kích thích liên tục. Tam âm giao là huyệt giao hội của 3 đường kinh âm: Tỳ, Can và Thận nên tác động kích thích này sẽ có tác dụng "thông khí trệ", "sơ tiết vùng hạ tiêu" và điều chỉnh những rối loạn nếu có ở những kinh và tạng có liên quan, đặc biệt là tác dụng "Dưỡng âm kiện Tỳ" và "Sơ Can ích Thận" mà các thầy thuốc châm cứu đều biết khi tác động vào huyệt này. 

Những người có dấu hiệu căng thẳng thần kinh, những bệnh nhân "Âm hư hỏa vượng" hay gặp các cơn bốc hỏa về chiều và những phụ nữ đang ở tuổi mãn kinh sẽ dễ dàng cảm nhận được hiệu quả khi ngồi vào thế kiết già.

3. Giảm các kích thích giác quan: 

Một trong những yếu tố quan trọng để dễ nhập tĩnh là không bị các kích thích bên ngoài quấy nhiễu - người xưa gọi là "bế ngũ quan".

Trên thực tế, những quan sát qua điện não đồ cho thấy chỉ cần nhắm mắt để loại bỏ thị giác là đã giảm được 50% các kích thích từ bên ngoài, do đó, nên nhắm mắt lúc ngồi thiền. Khi nhắm mắt chỉ cần khép hờ để bảo đảm không có sự căng cơ ở vùng mặt.

4. Giãn mềm cơ bắp:

Trong quá trình hành thiền, việc chủ động giãn mềm cơ bắp sẽ thúc đẩy nhanh quá trình thư giãn, nhập tĩnh.

Trên thực tế, chỉ cần quan tâm giãn mềm cơ mặt và cơ bàn tay là đủ. Điều này căn cứ vào hai quy luật:

- Thứ nhất, mặt và hai bàn tay là những vùng phản chiếu có các điểm tương ứng với toàn bộ cơ thể, do đó nếu thư giãn được vùng mặt hay hai bàn tay sẽ thư giãn được toàn thân.
- Thứ hai, theo học thuyết Paplop, khi tập trung gây ức chế thần kinh một vùng hoặc một điểm ở vỏ não (qua hiệu ứng thư giãn) thì sự ức chế này sẽ lan tỏa gây ức chế toàn bộ vỏ não.

5. Tập trung tâm ý:

Đây là giai đoạn chính của buổi hành thiền. Để thư giãn thần kinh hoặc để chữa bệnh, chỉ cần duy trì tình trạng tập trung vào điểm hoặc vào đề mục tập trung trong một thời gian nhất định là đủ. Điều quan trọng là nên tập đều đặn hàng ngày, mỗi ngày một hoặc hai lần. Lúc đầu, ngồi khoảng 15 phút mỗi lần, dần dần tăng lên. Sau một thời gian, khi não bộ đã ghi nhận thói quen thiền thì việc ngồi vào tư thế, nhắm mắt, việc đầu lưỡi chạm nhẹ lên hàm răng trên hoặc ám thị giãn mềm cơ bắp sẽ hình thành nên những phản xạ có điều kiện để đưa người tập vào trạng thái thiền định.

Về điểm để tập trung tư tưởng, một vị trí ở vùng bụng dưới mà nhiều trường phái thường chọn làm điểm tập trung khi ngồi thiền là huyệt Đan điền, cách dưới rốn khoảng 3cm. Nên tập trung vào điểm này vì nhiều lẽ.

Theo y học cổ truyền, "thần đâu khí đó". Do đó, khi tập trung vào một điểm ở vùng dưới cơ thể thì khí và huyết sẽ lưu chuyển về phía dưới, làm nhẹ áp lực ở vùng đầu, dễ dẫn đến nhập tĩnh.

Đan điền còn gọi là Khí hải hay Khí huyệt, ngụ ý là nơi "luyện thuốc", là "bể chứa khí". Đan điền là một huyệt quan trọng trong việc luyện dưỡng sinh của các đạo sĩ, các nhà khí công.

Một số người tâm dễ xao động có thể cần một phương pháp kiểm soát tâm chặt chẽ hơn. Trường hợp này, nên kết hợp quan sát hơi thở với việc tập trung tại Đan điền bằng cách quan sát sự phồng lên và xẹp xuống tại bụng dưới. Lúc hít vào bụng dưới hơi phồng lên, lúc thở ra bụng dưới hơi xẹp xuống. Chỉ cần thở bình thường. Không cần quan tâm đến thở sâu hay thở cạn, đều hay không đều. Điều quan trọng ở đây là tập trung quan sát để biết rõ ta đang hít vào hay đang thở ra thông qua chuyển động phồng lên hay xẹp xuống ở bụng dưới. 

Thỉnh thoảng sẽ có những lúc tâm bị phân tán, các tạp niệm xen vào. Điều này là bình thường. Chỉ cần khi nhớ ra hãy tập trung trở lại Đan điền hoặc tiếp tục quan sát hơi thở vào ra là đủ. Lâu dần, những tạp niệm sẽ bớt đi, thời gian tập trung sẽ dài hơn, hơi thở sẽ đều, chậm và nhẹ hơn, cho đến lúc không còn ý niệm và quên luôn cả hơi thở. Nếu thường xuyên đạt đến tình trạng này, có nghĩa người tập đã tiến được một bước rất dài. Không chỉ là không bệnh tật mà còn là sự tự tin, cảm thông và hoà hợp để dần dần đạt đến điều mà người xưa gọi là thiên - địa -  nhân hợp nhất.
 
6. Ngừng tập (ngừng thiền):

Sau khi ngồi thiền, trước khi đứng dậy cần làm một số động tác để cơ thể hết tê mỏi và khí huyết lưu thông bình thường. Từ từ buông thõng hai chân, xoay người qua lại nhiều lần, xoay ở vùng hông và vùng cổ. Dùng hai tay vuốt nhẹ hai bên sóng mũi từ đầu mũi xuống chót cằm, vuốt ấm vành tai. Xoa hai lòng bàn tay vào nhau cho ấm rồi áp vào mắt. Dùng hai bàn tay xoa bóp dọc theo hai chân, từ đùi dài xuống bàn chân. Xoa ấm hai lòng bàn chân.

Việc ngừng thiền dài hay ngắn tùy thuộc vào mỗi buổi thiền. Nếu chỉ thiền khoảng 15 phút hoặc khi có công việc cần đứng lên gấp thì chỉ cần co duỗi hai chân và xoay người, hoặc lắc cổ qua lại nhiều lần là đủ.

NGỒI THIỀN CÓ GÂY NGUY HIỂM GÌ KHÔNG?

Một vấn đề cuối cùng mà những người mới tập thiền thường thắc mắc là liệu ngồi thiền có gây nguy hiểm gì không? 

Câu trả lời sẽ tùy thuộc vào phương pháp và động cơ của việc ngồi thiền. Một số phương pháp thiền có phối hợp với vận khí hoặc có sự hỗ trợ khai mở một số trung tâm lực trong cơ thể nhằm thúc đẩy nhanh quá trình sinh khí và gia tăng nội lực. Các phương pháp này có thể gây những nguy hiểm đi kèm nếu người tập thiếu những kiến thức về khí công, về y học truyền thống hoặc không có đạo sư hướng dẫn để vận dụng và kiểm soát kịp thời nguồn năng lực mới phát sinh. 

Trái lại, nếu ngồi thiền để đạt đến sự tĩnh lặng trong tâm trí, để thư giãn thần kinh và tăng cường sức khỏe, không vận khí, không bám víu vào bất cứ ảo giác, âm thanh hoặc hình ảnh nào thì không có gì nguy hiểm.

Lương y VÕ HÀ

"Hạnh phúc" trong từng hơi thở - Nhất tâm, Thở và Cười.

Chúng ta luôn đi tìm "hạnh phúc" ở nhiều nơi, nào là xem phim, nào là chuyện trò với bạn bè, nào là ăn nhậu, cafe, tiệc tùng,  karaoke, nhảy đầm, xem TV, nghe nhạc, v.v... nhưng liệu cuộc sống có đủ đầy những thú vui đã được gọi là "hạnh phúc"?

Ai cũng biết rằng hơi thở vô cùng quan trọng. Một hơi thở ra mà không thở vào được là mạng sống đã hết. Hơi thở là kết nối duy nhất giữa thân và tâm, giữa sự sống và cái chết, giữa quá khứ và hiện tại. Tuy nhiên lại không có mấy ai chú ý đến hơi thở và biết thở như thế nào mới là đúng.

Bạn có thể không biết nững khái niệm như Thiền hay Yoga, nhưng bạn hoàn toàn có thể chú tâm theo dõi và kiểm soát được hơi thở của mình. Những khi việc không được như ý, bạn bực tức, la hét, chửi mắng... nhưng bạn hãy chọn giải pháp mang "hạnh phúc" cho chính mình - theo dõi hơi thở. Khi hít vào, ta biết hơi thở vào, khi thở ra, ta biết hơi thở ra.

Nhất tâm là làm cho tâm tập trung vào một đối tượng mà thôi. Khi tâm được tập trung, tự nó sẽ "chế tác" ra một nguồn năng lượng của an lạc, làm cho cả thân và tâm được bình an.

Nhất tâm, thở và cười là nhu yếu của hạnh phúc. Khi tâm bạn bị phân tán mông lung, bạn không thể nào thụ hưởng hạnh phúc được, cho dù tất cả đang hiện bày trước mặt.

Tuy nhiên bản chất của tâm trí thường vốn rất xao động, tự nó không thể tập trung an định được, vì vậy cần được rèn luyện bằng ý thức. Trong các phương pháp làm cho tâm an định, hơi thở là một phương tiện thần diệu có thể làm cho tâm an tịnh nhanh chóng và hiệu quả.

Khi bạn chú tâm theo dõi hơi thở, làm cho hơi thở an tịnh thì tâm sẽ an tịnh. Trên thực tế, nếu hơi thở không lắng dịu thì tâm sẽ không thể an tịnh được. Do đó, luyện tập theo dõi hơi thở bạn sẽ từng bước khơi dậy sự an bình trong nội tâm.

Thật đơn giản: Hãy ngồi im lặng trên ghế , kể cả ngay  trong phòng làm việc và không làm gì cả. Chân tay thả lỏng, đơn giản chỉ theo dõi hơi thở: hít vào, thở ra, và đồng thời miệng mỉm cười. Hoặc kể cả khi đi bộ, bạn cũng có thể thư giãn, theo dõi hơi thở, thậm chí đếm hơi thở ra hoặc hít vào cũng là một thú vui thư giãn tuyệt vời và thần kỳ.

Khi an tâm thì nụ cười sẽ xuất hiện, bạn cười nhiều sẽ làm cho cuộc sống tươi mát, giảm thiểu phiền muộn. Có lẽ tập cười một cách hồn nhiên còn khó hơn là tập khóc. Nụ cười biểu hiện của hạnh phúc và cũng là tiềm năng đem lại hạnh phúc. Thật vậy,  bao giờ chúng ta cũng dễ chịu khi thấy một nụ cười hồn nhiên.

Như những nguyên lý của đời sống an lạc, những hạt nhân của hạnh phúc nếu được khai mở và phát triển, nó sẽ làm cho đời sống hạnh phúc của chúng ta trở tên toàn diện và ngày càng viên mãn.

Chỉ đơn giản vậy thôi là hạnh phúc đến ngay, Bình yên có ngay. Đơn giản làm sao!

Ngay lúc này đây bạn hãy ngừng đọc và theo dõi hơi thở của chính mình, và đừng quên mỉm cười bạn nhé.

Nguồn: Giác Ngộ

Thiền - Dưỡng Sinh Liệu Pháp tăng cường sức khỏe

Trong một thời gian dài có nhiều người cho rằng phương pháp thiền là một cách luyện tập về tôn giáo. Tuy nhiên, vài năm gần đây, đã có các cuộc nghiên cứu đã chứng minh rằng, việc luyện tập thiền có thể giúp tăng cường sức khỏe, chống lại chứng trầm cảm và cải thiện chất lượng cuộc sống.

Luyện tập thiền có vẻ còn cho phép con người khám phá chính bản thân họ, phân tích các vấn đề và phát triển sức mạnh tiềm ẩn bên trong cơ thể
Nếu bạn là một trong số những người thường bị căng thẳng trong công việc, dưới đây là vài lợi ích về sức khỏe mà khi luyện tập thiền một cách đúng đắn:

Tăng cường sức khỏe: Một trong những lợi ích rõ rệt nhất về sức khỏe thể chất của phương pháp thiền mang lại cho bạn là giúp cải thiện giấc ngủ và tăng cường khả năng miễn dịch. Thông thường tình trạng thiếu ngủ mạn tính có thể là do nhiều chứng bệnh nghiêm trọng ở hệ tuần hoàn và bệnh đái tháo đường gây ra. Nếu thường xuyên luyện tập thiền sẽ giúp bạn kiểm soát tốt hơn các biểu hiện cảm xúc.

Thông thường, những người đang bị những vấn đề lo lắng khuấy động tâm trí thường không thể duy trì giấc ngủ tốt. Trên thực tế, các chuyên gia cho biết, việc luyện tập thiền còn mang lại cho bạn cả sự bình thản bên trong cơ thể. Bởi vì khi bạn cảm thấy tâm trí bình yên và lắng dịu, chẳng có lý do gì khiến bạn bị chứng mất ngủ hoặc khó ngủ hành hạ.

Cải thiện cảm giác hạnh phúc: Khi gặp những nỗi buồn như mất người thân, không đạt được ước mơ, yêu đơn phương, thất finh hoặc luôn dằn vặt về thất bại của mình, nhiều người thường cảm thấy buồn bã và bất mãn với cuộc sống, thậm chí có thể dẫn đến những hành động gây nguy hiểm cho bản thân. Trong thời gian dài, nếu bạn không thể kiểm soát được tâm trạng phiền muộn, nỗi bất hạnh và tư tưởng bất mãn ấy, sẽ có nhiều khả năng tác động tiêu cực đến sức khỏe thể chất của bạn.

Rất nhiều căn bệnh, ốm đau bắt đầu xuất hiện chỉ từ những lý do tưởng chừng rất đơn giản: do bạn không cảm thấy hài lòng hay cảm thấy buồn với cuộc sống của mình. Căn cứ vào kết quả các cuộc nghiên cứu, một phương pháp giúp bạn hạn chế những nỗi bất hạnh đó là luyện tập thiền. Luyện tập thiền có vẻ như đã cho phép con người khám phá chính bản thân mình, phân tích các vấn đề và phát triển sức mạnh tiềm ẩn bên trong cơ thể - những điều này rất cần thiết trong việc duy trì sức khỏe thể chất tuyệt vời và mang lại hạnh phúc.

Giúp kiểm soát trầm cảm và trạng thái giận dữ: Trầm cảm và giận dữ là những cảm giác có thể tước đoạt đi năng lượng và niềm vui ra khỏi cuộc sống của bạn. Vì thế, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi biết những người mắc chứng trầm cảm mạn tính và giận dữ thường thể hiện sức khỏe thể chất không tốt. Việc luyện tập thiền thường xuyên có thể giúp bạn giảm trầm cảm và kiềm chế được cơn giận dữ. Hãy rời xa những tiếng ồn ào, sự bon chen, hối hả của cuộc sống bên ngoài trong vòng vài phút mỗi ngày, có thể giúp bạn lắng dịu tâm trí và thần kinh.

Thiền Sư Tuệ Tĩnh - "Vị Thánh" trong nền Y học cổ truyền Việt Nam

Tuệ Tĩnh Thiền sư (慧靜禪師, 1330-?) - Vị Thánh thuốc Nam, thường được gọi là Tuệ Tĩnh hoặc Huệ Tĩnh (慧靜), người làng Nghĩa Phú, tổng Văn Thái, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng (nay thuộc tỉnh Hải Dương) được phong là ông tổ ngành dược Việt Nam và là người mở đầu cho nền y dược cổ truyền Việt Nam. Các bộ sách Nam Dược thần hiệu và Hồng Nghĩa giác tư y thư của ông không chỉ có ý nghĩa trong lịch sử y học mà cả trong lịch sử văn học Việt Nam.

Nhiều thế kỷ qua, Tuệ Tĩnh được tôn là vị thánh thuốc Nam. Ngày nay tại Hải Dương vẫn còn đền thờ ông ở xã Cẩm Văn, Cẩm Vũ, ở chùa Hải Triều làng Yên Trung, nay là chùa Giám, xã Cẩm Sơn, huyện Cẩm Giàng

 Ông tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh (阮伯靜), biệt hiệu là Tráng Tử Vô Dật, quê ở làng Xưa, tổng Văn Thai, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng (nay là thôn Nghĩa Phú, xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương).

Mồ côi cha mẹ từ lúc 6 tuổi, ông được các nhà sư chùa Hải Triều và chùa Giao Thủy nuôi cho ăn học. Năm 22 tuổi, ông đậu Thái học sinh dưới triều vua Trần Dụ Tông, nhưng không ra làm quan mà ở lại chùa đi tu lấy pháp hiệu là Tuệ Tĩnh. Những ngày đi tu cũng là những ngày ông học thuốc, làm thuốc, chữa bệnh cứu người.

Năm 55 tuổi (1385), ông bị đưa đi cống cho triều đình nhà Minh. Sang Trung Quốc, ông vẫn làm thuốc, nổi tiếng, được vua Minh phong là Đại y Thiền sư và mất ở nơi đất khách quê người đó, không rõ năm nào.

Khi còn ở trong nước, Tuệ Tĩnh đã theo đuổi nghề thuốc: trồng cây thuốc, sưu tầm kinh nghiệm chữa bệnh trong dân gian, huấn luyện y học cho các tăng đồ. Ông đã tổng hợp y dược dân tộc cổ truyền trong bộ sách rất giá trị là bộ Nam dược thần hiệu chia làm 10 khoa. Đặc biệt, ông có bộ Hồng Nghĩa giác tư y thư (2 quyển) biên soạn bằng quốc âm, trong đó có bản thảo 500 vị thuốc nam, viết bằng thơ Đường luật (nôm), và bài "Phú thuốc Nam" 630 vị cũng dùng quốc ngữ.

Từ bao đời nay, giới y học Việt Nam và nhân dân đều công nhận công lao to lớn của ông trong việc xây dựng một quan điểm y học độc lập, tự chủ, sát với thực tế Việt Nam. Câu nói của ông: "Nam dược trị Nam nhân" thể hiện quan điểm về mối quan hệ mật thiết giữa con người với môi trường sống xung quanh. Theo đó, người Việt nên dùng những vị thuốc từ chính đất Việt chứ không cần phải phụ thuộc vào những vị thuốc Bắc. Ông đã viết: Thiên thư dĩ định Nam bang, thổ sản hà thù Bắc quốc (Thiên thư đã định phận nước Nam, thổ sản không khác gì Bắc quốc). Quan điểm ấy dẫn dắt ông lên ngôi vị cao nhất của nền y học cổ truyền Việt Nam: "Ông Thánh thuốc Nam!" Ông không rập khuôn theo trước tác của các đời trước, Ông không đưa kim, mộc, thủy, hỏa, thổ lên đầu mà xếp các cây cỏ lên trước tiên! Ông phê phán tư tưởng dị đoan của những người chỉ tin vào phù chú mà không tin thuốc.

Tuệ Tĩnh đã không chỉ là một thầy thuốc chữa bệnh, ông còn truyền bá phương pháp vệ sinh, tổ chức cơ sở chữa bệnh trong nhà chùa và trong làng xóm. Ông đề cao việc phòng bệnh hơn chữa bệnh với phương pháp rèn luyện sức khỏe, trí lực. Đó chính là phương thức bảo vệ sức khỏe, rèn luyện cơ thể, suy nghĩ thanh sạch, tư tưởng ung dung. Nếu như y học hiện đại định nghĩa khỏe mạnh là “một trạng thái hoàn hảo về thể chất, tinh thần và phúc lợi xã hội” thì Danh y Tuệ Tĩnh đã viết nên định nghĩa đó từ hàng trăm năm trước. Qua những trước tác của Thiền sư Tuệ Tĩnh, ta thấy ông là người viết ra quy trình khám bệnh rất phù hợp với phương pháp y học hiện đại. Đó là trình tự phải tìm nguyên nhân trước, xác định bệnh lý, kiểm tra tình trạng bệnh lý, kiểm tra tình trạng người bệnh rồi mới trị bệnh bằng nhiều phương pháp khác nhau như châm, chích, chườm, bóp, xoa, ăn, uống, hơ, xông, v.v… kết hợp cùng uống thuốc.

Có tài liệu cho biết, trong 30 năm điều trị chữa bệnh, Tuệ Tĩnh đã xây dựng được 24 ngôi chùa và biến các chùa này thành nơi chữa bệnh cho dân. Ông tập hợp được 182 chứng bệnh được chữa bằng 3.873 phương thuốc. Tuệ Tĩnh nhấn mạnh tác dụng việc rèn luyện thân thể và sinh hoạt điều độ, phương pháp dưỡng sinh nói gọn trong 14 chữ sau:

    Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần

    Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình

Tuệ Tĩnh không chỉ chữa bệnh cho mọi người mà ông còn tập hợp những bài thuốc chữa bệnh cho gia súc. Có thể nói, ông đã góp phần đặt cơ sở cho ngành thú y dân tộc của Việt Nam.

Với tư tưởng kết tinh giữa Phật học và Y học, Thiền sư Tuệ Tĩnh đã trở thành người đầu tiên chú giải sách Thiền tông khóa hư lục của vua Trần Thái Tông soạn. Ngoài ra, ông cũng nghiên cứu và viết nên cuốn sách khai mở nền y học cổ truyền của nước ta: "Dược tính chỉ Nam", liệt kê ra hàng trăm bài thuốc cổ truyền với những dược liệu từ những cây thuốc Nam. Đáng tiếc, các tác phẩm của ông hiện tại không còn nguyên vẹn mà đều do người đời sau biên tập lại với tài liệu thu thập trong nhân dân như: "Nam dược thần hiệu", "Hồng nghĩa giác tư y thư". Đó là những đóng góp vô cùng to lớn, đặt lên những viên gạch đầu tiên cho nền y học nước nhà.

Một đời đau đáu với sự nghiệp y học cứu nhân độ thế, được nhân dân ngưỡng mộ, được triều đình nhà Minh trọng dụng, nhưng Thiền sư Tuệ Tĩnh vẫn một lòng hướng về quê hương. Tương truyền sau này khi đi sứ sang Trung Quốc Tiến sĩ Nguyễn Danh Nho đã thăm mộ ông ở Giang Nam và thấy trên bia mộ còn ghi dòng chữ: “Ai về phương Nam cho tôi về với”. Mộ chí ông giờ không còn dấu tích nơi đất khách quê người nhưng người dân đất Việt vẫn một lòng tôn kính và trân trọng những đóng góp vô cùng to lớn của ông và tôn xưng ông với danh hiệu: “Vị thánh thuốc Nam”.

                                                                                                                                     Nguồn Wikipedia

LB.VN sưu tầm