BẾ TINH, DƯỠNG KHÍ, TỒN THẦN

THANH TÂM, QUẢ DỤC

THỦ CHÂN, LUYỆN HÌNH

Showing posts with label Tin tức. Show all posts
Showing posts with label Tin tức. Show all posts

Tiết lộ chấn động về thuốc Tây Y và phương pháp điều trị ung thư !

Để mở đầu bài viết xin trích dẫn câu nói khá nổi tiếng ” Ngàn lần nói sai thành chân lý”, đa số chúng ta khi sinh ra tới khi chết đi nếu bạn không tinh ý bạn sẽ bị dẫn dắt bởi giáo dục, truyền thông đang hàng ngày “tẩy não” chúng ta một cách hết sức tinh vi và có hệ thống .

Tây Y (Western medecine) đã tiến bộ và phát triển mạnh mẽ trong khoảng 100 năm trở lại đây, Bên cạnh những thành tựu xuất sắc, đặc biệt của các trị liệu bằng phẫu thuật, vi phẫu thuật, đặt implant, thay ghép tạng, sử dụng tế bào mầm v.v…người ta nhận ra là vẫn có một bộ phận của Tây Y trở nên ì ạch không phát triển gì nhiều. Đó là sự tồn đọng của nhiều bệnh (thường gặp) mà nguyên nhân vẫn còn không được biết rõ! Và vì thế, những trị liệu hiện nay chỉ có tính cách trị triệu chứng (symptom relief) hoặc trị liệu tạm thời (palliative care). Ví dụ bệnh suyễn, bệnh cao huyết áp, bệnh tiểu đường, bệnh vảy nến, bệnh vảy cá (ichthyosis) v.v và v.v…nhất là Tây Y chưa giải quyết được một bệnh ác tính đang tăng nhanh trong thời đại này, đó là bệnh ung thư.

Khi nhìn về y học cổ truyền, thì người ta lại nhận ra rằng y học cổ truyền đã thất lạc mất rồi. Dù đã được phục hồi phần nào trong thời gian gần đây nhưng nền y học cổ truyền đã bị thất lạc rất nhiều kiến thức mà nó đã xây dựng qua hàng ngàn thế kỷ! Điều đáng sợ, là không phải nền y học cổ truyền tự nó suy tàn, mà nó đã bị “bức tử” trong đầu thế kỷ 20.

Có thông tin cho rằng chính giới tài phiệt của nước Mỹ, vì cạnh tranh, đã tiêu diệt nền y học cổ truyền với mục đích kiếm lợi!

Dĩ nhiên một người sáng suốt sẽ không quá khích (như những người chủ trương thuyết âm mưu) cho rằng nền Tây Y là không giá trị. Ngược lại, phải thấy rõ cái vĩ đại mà ngành Y bây giờ đã đạt được trong thời gian ngắn khoảng 100 năm trở lại đây. Phải thấy biết ơn những gì mà giới tư bản đã đóng góp cho các trường Y trên thế giới, giúp ngành Y có được những thành tựu như ngày nay.

Nhưng, không vì thế, mà ta không biết một chút về mặt trái của tư bản, của cái gọi là Quỹ Rockefeller.
B4INREMOTE-aHR0cDovLzMuYnAuYmxvZ3Nwb3QuY29tLy1PVEMzLWdTSVd4RS9VNlVCTTB1MzBmSS9BQUFBQUFBQUFaOC90bkxaTmJZLUtpTS9zMTYwMC9mZGEtYXBwcm92YWwtYW5kLWJ1eS1oZ2guanBnCục quản lý thuốc và thực phẩm Hoa Kỳ- FDA

“Vấn đề của các hệ thống y tế là nó được điều hành bởi các nhà tài phiệt để phục vụ cho các mục đích tài chính. Nó chẳng sinh lợi gì trừ khi có người bị bệnh, do đó toàn bộ hệ thống y tế được thiết kế để làm con người càng ngày càng bệnh tật nhiều hơn.”

(Tiến sĩ bác sĩ Guylain Lanctor, tác giả của ‘The Medical Mafia: How to Get Out of It Alive and Take Back Our Health & Wealth’ )
Việc tẩy não quần chúng được ngành Dược được bắt đầu rất sớm.

“Ai nắm giữ quá khứ sẽ kiểm soát tương lai. Ai nắm giữ hiện tại sẽ tóm gọn quá  khứ” phải có sự hiểu biết cặn kẽ về Cục Quản lý Thuốc và Thực Phẩm Hoa Kỳ (US FDA), nhất là về những cộng sự và lịch sử tăm tối của Cục - George Orwell’s (in Nineteen eighty four)

Cục quản lý thuốc và thực phẩm (F.D.A) lúc mới bắt đầu thành lập chỉ là một ban quản lý hóa chất (Division of Chemistry), thời gian sau được gọi là Cục quản lý hóa chất (Bureau of Chemistry), mãi về sau mới đổi tên thành F.D.A.. Cái tên đã được thay đổi nhằm che dấu các dự án hóa chất công nghiệp. Cơ quan này cấp cho các công ty tư cách pháp lý để đưa hóa chất vào thực phẩm và giúp các hãng dược phẩm bằng cách chứng nhận “được FDA chấp thuận”. Người dân sẽ không có bằng chứng pháp lý nào để chống lại ngành công nghiệp hóa chất được.

Công việc thực sự của nó đã và đang làm là “thông qua” hoặc “xử phạt” những sản phẩm thuộc ngành công nghiệp hóa chất. và với quyền lực này, nó che dấu một cách hợp pháp cho những hóa chất trong ngành công nghiệp, bằng cách tuyên bố …cái gì mới là “an toàn”.

Nó đều đặn chia sẻ những dữ liệu được bảo mật với các nghiệp đoàn hóa học cộng sự, để làm giảm nhẹ trách nhiệm. Ví dụ, những thông tin ô nhiễm mà họ đã ém nhẹm trước công chúng. Đây là những vấn đề thuộc “quan hệ công chúng”

Mô hình F.D.A hiện đại hơn được tiến hành vào năm 1913—trong cùng một thời điểm thành lập ra quỹ Rockefeller. Tay nắm tay, FDA – Quỹ Rockefeller và Hiệp hội y tế Hoa Kỳ (AMA) cùng nhau hoạt động sát cánh.

Quỹ Rockefeller được thành lập vào năm 1913, với mục đích trọng yếu là nhắm vào lãnh vực y học và đào tạo y khoa. Tài trợ ban đầu của Rockefeller cho trường y đạt trên 550.000.000 dollar. Chỉ trong năm 1928, Quỹ Rockefeller đã tài trợ tiền cho 18 trường Y trên khắp 14 quốc gia. Từ đó, những cộng sự của Rockefeller tại FDA đã bắt đầu thúc đẩy cuộc cạnh tranh khốc liệt với tất cả các loại thuốc nào được coi là “đối lập” với ngành công nghiệp hóa chất.

“Tôi sẽ không đời nào công nhận mọi loại thuốc mới nào, trừ phi loại thuốc ấy đến từ một hãng dược khổng lồ với những nguồn tài chính vô hạn. “ - Tiến sĩ Richard J.Crout, giám đốc của cục quản lý thuốc của FDA (Spotlight, 18 tháng 1, 1982)

Các loại thảo dược bị đàn áp là tất cả thứ mà FDA không thể kiểm soát, và khống chế bằng các tấm bằng sáng chế (patent). Thuốc từ tự nhiên sẽ chẳng bao giờ có thể được cấp bằng sáng chế cả! Đó là lý do tại sao tất cả các liệu pháp thiên nhiên và không gây độc hại hiển nhiên trở thành “thuốc bịp bơm” theo cách gọi của FDA, của ngành công nghiệp hóa chất, và của ngành y! Ngược lại chỉ có những hóa chất trái với tự nhiên (như phi hữu cơ và chất độc ) là có thể được cấp bằng sáng chế, và những loại thuốc không chứa độc tố được xem là một mối đe dọa trong việc kinh doanh thuốc.


“FDA bảo vệ các tập đoàn dược phẩm lớn, sau đó được nhận lại sự khen thưởng. FDA sử dụng quyền lực của chính phủ, họ tấn công những ai gây nguy hại cho các hãng dược lớn. Người dân nghĩ rằng FDA đang bảo vệ họ. Nhưng không phải thế!. Những gì mà FDA đang làm và những gì mà người dân tưởng như vậy, thực sự hoàn toàn trái ngược như ngày với đêm.”  - Tiến sĩ Herbert Ley, cựu thành viên hội đồng của FDA

“Vào năm 1919, việc Rockefeller trao tặng một số trường y ở Canada 5.000.000 dollar đã góp phần tạo nên nền giáo dục y khoa Canada đến tận thế kỷ 20. 

Y học thời đó làm gì có cái thị trường sinh ra lợi lộc như bây giờ, thế nên các trường y đã phải nương nhờ vào các khoản viện trợ của Rockefeller (dành cho những trường đào tạo đạt yêu cầu). Ngành Y nhận tài trợ và chấp nhận điều kiện của Rockefeller là phải tuân thủ các quy định:

- Một là, từ bỏ các thể loại y học cổ truyền thống và các dược liệu tự nhiên, thay vào đó là một thế hệ mới các sản phẩm thuốc từ các dẫn xuất hóa học.

- Hai là phải xóa bỏ toàn bộ nền y học của quá khứ. Điều gì đã xảy ra để khơi mào cho nạn đốt sách ở khắp nơi? Trong một vài trường hợp, chính FDA đã thiêu hủy sách. Quả là một thời kỳ gian nan cho các bác sĩ theo truyền thống trị liệu tự nhiên (traditional naturalpathic)

Nhà tài phiệt Rockefeller
Tất cả những ai bất đồng chính kiến, cố nắm giữ quá khứ, có quan điểm tổng quan (holistic), dùng các liệu pháp thiên nhiên để chữa bệnh, từ nay sẽ được xem như bị quỷ ám, một dạng “lang băm” đối với hệ thống đào tạo y khoa chính quy, dù cho đó có là những “lang băm” từng đoạt giải nobel y học, và kết quả thu được sâu rộng đến chừng nào.

…Có các vitamin hay sữa tươi có thể thực sự tiêu diệt các tế bào ung thư. Điều đó có nghĩa là có khi chỉ cần thực dưỡng mà chẳng cần phải có các bác sĩ với những phương pháp chữa bệnh nào nữa. Thực dưỡng như vậy là bất hợp pháp, dù bằng cách này hay cách khác, vì chẳng có một phương pháp thực dưỡng nào được “chấp thuận” cả..

Đã có một mối quan hệ bất chính được hình thành giữa hiệp hội Y học Hoa Kỳ, FDA, và Quỹ Rockefeller. Để đảm bảo sự tuân thủ hợp đồng của các trường Y, quỹ Rockefeller thường xuyên nhấn mạnh các trường Y phải đặt nhân viên của Quỹ Rockefeller vào ban giám đốc điều hành.

Hệ thống pháp lý mới củng cố sự độc quyền của ngành Y, cùng với sự độc quyền ở lĩnh vực công nghiệp hóa dầu của Rockefeller trong quá khứ. Thay vì chỉ sở hữu tất cả các nguồn dầu khí, đế chế Rockefeller hiện nay đã kiểm soát hầu hết tất cả các loại thuốc men tiêu dùng. Nó sở hữu vị chúa sơn lâm, được gọi là “công nghiệp dược phẩm”, mà trước đây là ngành công nghiệp hóa chất. Lại một lần nữa, thuốc men sẽ được kiểm soát và điều chế để chống lại người dân Mỹ. Hệ thống từ đó phân nhánh vươn ra trên toàn thế giới.

Suốt cả cuộc đời, ngài John D. Rockefeller đã từ chối uống loại thuốc thế hệ mới! Trái lại, cả đời ngài lại sử dụng những phương pháp có tính toàn diện của y học truyền thống cho mục đích sức khỏe của chính mình. Nhiều người bạn của ngài tại FDA và AMA cũng cùng một kiểu như thế.

Sau khi Rockefeller cưỡng chiếm các trường Y, thì các bệnh chết người như bại liệt- tim- và ung thư thực sự bùng phát.

Từng có một chuyên gia u não chiễm trệ trong phòng khách của tôi bảo với tôi rằng, anh ta sẽ chẳng bao giờ xạ trị, nếu như chẳng may bị u não đi nữa. Và tôi hỏi anh ta rằng, “thế chẳng phải anh vẫn chuyển người ta đến khu xạ trị sao?” anh ta điềm nhiên trả lời “ phải thế thôi, nếu không tôi sẽ bị tống cổ khỏi bệnh viện” (Tiến sĩ, bác sĩ Ralph Moss.)

Nếu mắc bệnh ung thư thì: 90% bác sĩ ung thư học (oncologist) sẽ không bao giờ chấp nhận chiếu xạ cho ung thư phổi. 84% sẽ không chấp nhận hóa trị cho ung thư đại tràng.

- Nghiên cứu của đại học Harvard được công bố tại viện sức khỏe quốc gia Hoa Kỳ : “Có sự khác biệt về sự thuận tình chấp nhận các liệu pháp kháng ung thư của các bác sĩ chuyên khoa ung thư khi chính họ bị bệnh”


Xạ trị, hóa trị những điều bạn chưa biết :

Liệu pháp hóa trị và xạ trị được cho là phương pháp điều trị ung thư khoa học nhất. Tuy nhiên, những con số khoa học đó chẳng ăn khớp gì với nhau.

100% quá trình điều trị đều độc hại.

Tính trung bình, Liệu pháp hóa trị và xạ trị chỉ có hiệu quả 4-5% trong cả một quá trình phục hồi dai dẳng.

Cụm từ ‘điều trị thành công’ được các bác sĩ chuyên khoa ung thư và y văn định nghĩa, tức là không có các khối u (chẳng có tí dính dáng gì đến ung thư) trong vòng 5 năm, và họ tiếp tục đếm con số bệnh nhân ‘sống sót’, dù cho 6 năm sau là những người này có chết đi chăng nữa, những con số này tiếp tục được họ xào nấu thành tỷ lệ chữa bệnh của mình. Đây là một trong những cách mà khoa học điều chế cho ra đúng thuốc khớp với những con số của mình.


“ Những nghiên cứu của tôi chỉ ra rằng, những bệnh nhận ung thư không điều trị sống lâu hơn gấp 4 lần những bệnh nhân điều trị. Đối với các loại ung thư điển hình, thì người từ chối điều trị có thể sống giao động trong vòng từ nửa năm đến 12 năm. Còn những ai chấp nhận phẫu thuật, hay các phương pháp trị liệu khác [ hóa trị, xạ trị, cobalt] chỉ có một mức trung bình là 3 năm.” (Tiến sĩ Hardin Jones, bộ môn sinh lý học, đại học California, Berkeley).


Tất cả những phương pháp điều trị hạt nhân và hóa trị được biết là căn nguyên gây ra và di căn ung thư.

Những phương pháp vô lý này được gọi là “biết được mặt trái của hiệu quả”. Động thái sàng lọc để phân loại ung thư cũng cùng một kiểu với phương pháp điều trị, đưa ra càng nhiều trường hợp bệnh nhân nhiễm phóng xạ và các độc chất công nghiệp càng tốt. Đây là lý do mà con số mắc bệnh ung thư vú bùng phát cùng với sư gia tăng những thử nghiệm chụp nhũ ảnh.

Trường hợp tử vong do điều trị (tử vong do bác sĩ điều trị) đứng thứ 3 trong những nguyên nhân tử vong hàng đầu tại Mỹ trích từ thống kê riêng của các tổ chức y tế. Cái chết bởi thầy thuốc bình thường tới nỗi người ta đã gói gọn nó trong một từ ‘iatrogenic’-do thầy thuốc.

Các cô gái phải trải qua hóa và xạ trị phải đối diện với nguy cơ 35% nguy cơ mắc bệnh ung thư vú vào độ tuổi 40, 75% là điều này sẽ xảy ra cao hơn cái mức trung bình 35% kia. Bức xạ quang tuyến vú cũng sản sinh ra các loại ung thư, đặc biệt là ở vùng ngực.

“Một nghiên cứu với hơn 10.000 bệnh nhân cho thấy rõ ràng rằng chỉ định hóa trị mạnh cho chứng Hodgkin (u hạch bạch huyết) được ghi nhận trong hồ sơ bệnh án thực là trò lừa bịp. Những bệnh nhân trải qua hóa trị, có hơn 14% phát triển các bện bạch cầu và hơn 6% phát triển ung thư các cơ xương khớp gấp hiều lần những bệnh nhân không phải trải qua hóa trị liệu - Tiến sĩ-Bác Sĩ y khoa John Diamond

Tiến sĩ Ewan Cameran, đã 2 lần thắng Linus Pauling ở giải Nobel tại Scotland (mà nghiên cứu của Linus sau này đã được nhân rộng trên các nghiên cứu tại Canada và Nhật Bản), bằng nghiên cứu so sánh giữa việc điều trị vitamin C với hóa trị liệu.

Đoán thử xem, nhóm bệnh nhân này sẽ sống dai hơn thời gian trung bình của các bệnh nhân ung thư là bao lâu? Và số bệnh nhân trong nhóm này là bao nhiêu?


Vitamin C giúp kéo dài tuổi thọ trung bình của các bệnh nhân ung thư lên gấp 6 lần, và đương nhiên cũng làm chất lượng đời sống của họ tốt hơn. Có một sự khác biệt so với thực tế là Vitamin C tăng cường hệ thống miễn dịch, thay vì làm suy yếu nó hơn như hóa trị đã làm.

“Là một nhà hóa học được đào tạo để giải thích dữ liệu, thông tin này khiến tôi khó mà chấp nhận rằng các bác sĩ đã bác bỏ bằng chứng rõ ràng rằng càng hóa trị bao nhiêu, càng hại nhiều hơn là lợi.” – TIến sĩ Alan Nixon, cựu chủ tịch của hiệp hội hóa học Hoa Kỳ.

Bệnh nhân ung thư đều có nguy cơ tử vong do nhiễm trùng máu bất kỳ lúc nào, điều đó là hiển nhiên vì hóa trị liệu đã phá hủy hoàn toàn hệ thống miễn dịch của bệnh nhân, và do đó vi khuẩn đã từ đó dễ dàng xâm nhập và giết chết bệnh nhân. Thông thường thì những trường hợp như thế này lại được tính là “tử vong do nhiễm trùng máu” thay vì là tử vong do ung thư. Đó là một phương cách khác để hội đồng y tế thao túng các số liệu thống kê về sự an toàn và hiệu quả của hóa trị và xạ trị liệu pháp.

Các công ty hóa chất đã tạo ra vấn đề, để họ có thể kinh doanh trên chúng ta bằng giải pháp của riêng họ. Các giải pháp phòng tránh mà họ nói chỉ đơn giản là không để lộ ra thứ chất độc mà họ đang kinh doanh.


Tiếng nói của họ vô cùng mạnh mẽ trên các kênh truyền thông đại chúng, cho nên họ mặc nhiên có thể đổ lỗi những bệnh tật đã gây ra cho chúng ta là do mặt trời. Chứng thiếu hụt vitamin D rất là phổ biến hiện nay, chứng minh rằng mọi người đã không nhận được đủ ánh sáng mặt trời.

Thời gian trung bình đã dự kiến để chữa bệnh thường được kéo dài thêm 4% trên tổng số quá trình (đó là chưa tính trong vòng 5 năm trở lại đây họ đã dung những tinh đồn để gian lận các thông số chữa trị)


Vì vậy, với lượng độc tố trong các “phương pháp điều trị quy chuẩn”, thì có khoảng 96% khả năng là phương pháp điều trị sẽ giết bạn, nhiều hơn là căn bệnh ung thư sẽ giết chết bạn.

Ngay từ khi còn là sinh viên các bác sĩ đã nhận quà của Big Pharma, càng về sau sự nghiệp thì những món quà này càng lớn hơn.

Các bác sĩ chuyên khoa khác chỉ đơn giản là viết toa thuốc, nhưng riêng bác sĩ chuyên khoa ung bứu (trị ung thư) có lợi nhuận cao hầu nhờ mua sỉ các loại thuốc chống ung thư trên thị trường, và bán chúng cho bệnh nhân với giá trên trời. Họ cho bệnh nhân biết rằng những người này sẽ chết nếu không có thuốc.


(NBC Nightly News story- Các bác sĩ khoa ung thư thu lợi nhuận từ các thuốc hóa trị liệu. )


“Phần lớn bệnh nhân mắc bệnh ung thư ở đất nước này chết vì hóa trị. Liệu pháp hóa trị không trị hết ung thư vú, ung thư đại tràng hay ung thư phổi. Sự thực này đã được ghi nhận trong hơn một thập kỷ qua, nhưng các bác sĩ vẫn áp dụng hóa trị đối với những khối u loại này. Nữ giới bị ung thư vú có nguy cơ chết nhanh hơn là không có hóa trị.”  (Bác sĩ y khoa Alan Levin).


“Hiệp hội ung thư Hoa Kỳ (The American Cancer Society) đã cố gắng hủy đi nền tảng nghiên cứu của tôi”. (Tiến sĩ Albert Szent-Gyorgyi, người nghiên cứu những đột phá của vitamin C, người chiến thắng giải Nobel Y học năm 1937 )

Hiệp Hội Ung Thư Hoa Kỳ – The American Cancer Society 

Bạn đoán thử xem tổ chức này được thành lập khi nào và và bởi ai ?

B4INREMOTE-aHR0cDovLzMuYnAuYmxvZ3Nwb3QuY29tLy1EaFRwWExacGNhVS9VNlVCTTJkMWVySS9BQUFBQUFBQUFhRS9UR0k4NzluTG1qcy9zMTYwMC9oKzYuanBn
Tổ chức này được thành lập bởi John. D. Rockefeller Jr., trong năm 1931 màu nhiệm, cùng với thời điểm khi ngài “hiến tặng” tài sản cho đại học Havard. Bạn có tin rằng một ngày đẹp trời nào đó, họ sẽ công bố phương pháp chữa lành bệnh ung thư, và vứt bỏ chiếc xe tải chất hàng đống tiền của mình không? Và bạn sẽ hiểu tại sao vitamin C lại đe dọa đến sứ mệnh của họ?

Chúng ta được giáo dục để tin vào “kỳ tích” của hóa dược hiện đại, là vượt trội hơn so với các loại thảo dược truyền thống. Nhưng, cái mà họ không đề cập đến là khoảng từ 50-70% thành phần hóa học của thuốc hiện đại được trích từ các thành phần thảo dược. Chính các hợp chất hữu cơ ấy là lý do tại sao một số loại hóa dược đôi khi lại có hiệu quả!

Theo ghi nhận của ủy ban điều tra dân số Hoa Kỳ, Ung thư là sát thủ đứng thứ 2 ở nước Mỹ, nhưng hầu hết những ca tử vong là do phương pháp điều trị, chứ không phải do bệnh ung thư. Các loại dược phẩm là kẻ giết người đứng thứ 4. Nước Mỹ sở hữu một hệ thống y tế nguy hiểm và đắt tiền nhất thế giới. Hệ thống này tạo ra 60% tất cả các vụ phá sản tại nước Mỹ.

“Không chỉ có một, mà còn rất là nhiều những phương pháp chữa trị cho bệnh ung thư. Nhưng tất cả những phương pháp còn lại đều bị ACS, NCI và các trung tâm ung thư lớn đàn áp. Bởi hiện tại họ đang có quá nhiều lợi nhuận trong chuyện này”(Tiến sĩ, bác sĩ y khoa, tác giả của “chế độ ăn kiêng Atkins”.)

(Sưu tầm)
Nguồn: Cancer report của Health Wyze

Bạn cần biết: Vitamin D cần thiết như thế nào đối với cơ thể chúng ta

MỘT HY VỌNG MỚI CHO NHỮNG NGƯỜI BỊ BỆNH UNG THƯ: ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ BẰNG SINH TỐ D.

Trong tuyển tập nghiên cứu về bệnh Ung Thư (Critical Reviews in Oncology Hematology) được ấn hành bởi Elsevier, nhà xuất bản lớn nhất thế giới về khoa học và y khoa, có một chương nói về cách điều trị và phòng ngừa ung thư của hai Giáo Sư Y Khoa người Việt Nam: Bác Sĩ Lương Vinh Quốc Khanh và Bác Sĩ Nguyễn Thị Hoàng Lan.

Bác sĩ Lương Vinh Quốc Khanh là Hội Viên (Fellow) của 6 trường Đại Học về Chuyên Khoa Y Khoa và 1 trường Đại Học Y Khoa Anh Quốc. Ông là Giáo Sư Thỉnh Giảng của Đại Học Y Khoa UCLA, Giáo Sư của trường USC, Keck School of Medicine, Los Angeles.

Bác sĩ Nguyễn Thị Hoàng Lan là Hội Viên của 3 trường Đại Học Chuyên Khoa Y Khoa và là Giáo Sư trường USC, Keck School of Medicine, Los Angeles.

Nhân một cơ hội được đọc chương về Cách Dùng Sinh Tố D để trị Bệnh Ung Thư nói trên, người viết đã làm một cuộc phỏng vấn ngắn ngủi với Giáo Sư Bác Sĩ Lương Vinh Quốc Khanh.

 -H: Xin bác sĩ cho biết nguyên nhân nào dẫn tới việc nghiên cứu về Sinh Tố D để trị và ngăn ngừa bệnh ung thư.

 -Đ: Tôi đã nghiên cứu về sự liên hệ của sinh tố D và bệnh ung thư từ 20 năm nay. Tôi đã từng hợp tác nghiên cứu với một giáo sư nổi tiếng về Sinh tố D của Mỹ. Lý do dẫn tôi tới việc nghiên cứu này là một khám phá tình cờ. Trong lúc điều trị cho những người Việt Nam bị bệnh ung thư, tôi nhận thấy những bệnh nhân này có một đặc điểm chung là cùng thiếu Sinh tố D. Trước đó, tôi đã chia xẻ điều khám phá này với các vị thầy cũng như đồng nghiệp của tôi nhưng rất ít người đồng ý với ý kiến của tôi, có khi còn cho ý kiến ngược lại. Tôi nhớ khi tôi còn ở Đại Học UCLA và bắt đầu nghiên cứu về sự liên hệ giữa sinh tố D và căn bệnh quái ác này, ông thầy tôi gọi điện thoại cho tôi, chê trách là tôi không hiểu gì về sinh tố D cả. Ông thầy cho rằng người dân ở California không bao giờ thiếu Sinh tố D. Nhưng kêt quả thực tế do tôi khám phá là các người bệnh ung thư ở California đều thiếu sinh tố D. Mãi sau này, ông thầy tôi mới xin lỗi vì không bao giờ ông nghĩ là các bệnh nhân ung thư đều thiếu sinh tố D.

 -H: Điều đáng mừng là sinh tố D có thể mua tại bất cứ dược phòng nào, phải không?

 -Đ: Thật ra không phải cứ là sinh tố D thì có thể mua tự do tại các dược phòng. Có nhiều loại sinh tố D. Loại sinh tố D dùng để chữa bệnh ung thư phải có toa bác sĩ mới mua được. Loại cần toa bác sĩ này tốt gấp 10 lần các loại thông thường. Mấy loại mua ngoài chợ không có giá trị. Bản thân tôi khi chữa trị cho người mắc bệnh ung thư, đều dùng loại cần toa bác sĩ. Yếu tố này, thoạt đầu, cũng không được các đồng nghiệp khác đồng ý. Ngay chính ông thầy tôi cũng phản ứng khi được biết tôi chuyên dùng loại sinh tố D cần toa bác sĩ. Ông Thầy tôi cũng thắc mắc hỏi tại sao tôi chỉ cho toa mua loại này, sao không cho họ xài loại bán ngoài chợ. Các khảo cứu sau này cho thấy chỉ có loại sinh tố D cần toa bác sĩ, vì chỉ có loại ấy mới bám vào tế bào và tác dụng trên tế bào ung thư.

 -H: Khi tôi còn đi học, tôi được nghe nói là các yếu tố tiền sinh tố D nằm dưới da, có đúng không?

 -Đ: Đúng thế, các yếu tố tiền sinh tố D3 nằm dưới da. Nhờ tia ultra violet của mặt trời, các yếu tố này biến thành 25-sinh tố D3. Các chất 25-sinh tố D3 này vào tới thận biến thành 1,25-sinh tố D3. Chính 1,25-sinh tố D3 này mới có tác dụng trên cơ thể. Chất tiền 24,25-sinh tố D3, nếu không tiếp xúc với ánh sáng mặt trời thì không thể biến thành 1,25-sinh tố D3. Nhưng cũng có trường hợp luôn ở dưới ánh nắng mặt trời nhưng vẫn thiếu sinh tố D3. khỏang 1/3 đến phân nửa dân số sinh sống ở Sub-Sahara Phi Châu và Trung Đông được xem là thiếu sinh tố D. Như những người da đen, họ thường thiếu sinh tố D vì da họ đen quá làm cản tác dụng biến tiền sinh tố D thành sinh tố D3. Mũ che nắng, Sunblock cũng cản tia tử ngoại (UV) nữa. Da của người lớn tuổi cũng cản tia tử ngoại. Tế bào da của người lớn tuổi cũng không phát triển, thì người lớn tuổi cũng sẻ thiếu sinh tố D.

 -H: Còn yếu tố nào làm thiếu sinh tố D không?

 -Đ: Người Việt Nam thường bị viêm gan, các tế bài gan giảm đi, thì việc thay đổi từ 25-sinh tố D sang 1,25-sinh tố D3 cũng giảm đi. Đau thận cũng làm giảm thiểu sự biến hóa 1,25-sinh tố D3. Một điều cần lưu ý là có nhiều người phơi nắng rất nhiều cũng thắc mắc tại sao tôi thiếu sinh tố D. Phơi nắng nhiều quá, thì lại làm một lớp da ngoài bị cháy đi, biến thành lớp cản không tiếp nhận tia hồng ngọai tuyến (UV) nữa. Do đó việc đem người bệnh ung thư đi phơi nắng cũng gặp môt trở ngại là không biết độ nắng là bao nhiêu thì tốt.

 -H: Bác sĩ có thể nói thêm về quan hệ giữa sinh tố D và bệnh ung thư như thế nào được không?

 -Đ: Sinh tố D liên quan đến ánh nắng mặt trời. Vùng nào nhiều ánh nắng mặt trời thì ít ung thư. Vì thế những vùng càng xa xích đạo bao nhiêu thì càng thiếu sinh tố D, như vùng cực bắc âu thì thiếu sinh tố D rất nhiều, Người ta thấy có một liên hệ mật thiết giữa sinh tố D và bệnh ung thư, những người thiếu sinh tố D thì có tỷ lệ bị ung thư cao hơn người có nhiều sinh tố D. Như ở Norway, có nhiều vùng đồng quê, những vùng đồng quê ở cực Bắc thì tỷ lệ ung thư cao hơn vùng đồng quê phía nam, nơi mà người ta giầu sinh tố D hơn người cực bắc. Ngoài ra, còn có ảnh hưởng của thời tiết: Mùa đông ít ánh nắng mặt trời, nên số người bị ung thư tăng lên rất nhiều, Mùa hè thì giảm đi. Điều quan trọng là nếu dùng sinh tố D trong việc điều trị thì hy vọng khỏi bệnh càng cao.

 -H: Cám ơn bác sĩ. Mong rằng đây là một khám phá mới đem lại nhiều hy vọng cho những người mắc phải cơn bệnh của Thần Chết này. 

Một số thông tin bổ sung về Vitamin D:

Bổ sung đủ vitamin D có thể giảm ung thư

Kết quả một nghiên cứu, cho biết uống vitamin D hàng ngày có thể giảm được 50% nguy cơ ung thư vú, ung thư ruột, ung thư buồng trứng và nguy cơ thiếu máu.

Sau khi đánh giá hầu hết các nghiên cứu khoa học đã được công bố từ những năm 1960 có liên quan đến vitamin D và bệnh ung thư, các nhà khoa học Mỹ cho rằng uống mỗi ngày một liều vita-min D 1.000 IU ( tương đương 25 microgram) là điều cần thiết để duy trì sức khỏe.

Công trình nghiên cứu, được các nhà khoa học theo đuổi trong 40 năm nay, đã thu được những bằng chứng rõ ràng về tác dụng bảo vệ của vitamin D, và nếu cơ thể thiếu vitamin D sẽ dẫn tới những ảnh hưởng gây chết người thông qua các chứng bệnh về tim, phổi, ung thư, tiểu đường, cao huyết áp, tâm thần phân liệt và bệnh đa xơ cứng...

Vitamin D còn đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển xương, chống bệnh còi xương ở trẻ em và bệnh loãng xương ở người lớn.

Vitamin D được hình thành nhờ tác động của ánh nắng Mặt Trời đối với da, nơi chiếm tới 90% nguồn cung cấp vitamin D cho cơ thể. Nhưng các nhà khoa học cho rằng việc sử dụng kem chống nắng ngày càng tăng và giảm thời gian ở ngoài trời, đặc biệt đối với trẻ em, khiến tình trạng thiếu vitamin D ngày càng trở nên nghiêm trọng.

Liều vitamin D 1.000 IU/ngày là cao gấp 2,5 lần so với liều dùng hiện đang được áp dụng tại Mỹ.

Tại Anh chưa có lời khuyên chính thức về liều dùng, nhưng do thời tiết ít nắng, và hầu như không có nắng từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau nên có thể 60% dân số Anh thiếu máu vào cuối mùa Đông.

Cơ quan tiêu chuẩn thực phẩm Anh lâu nay cho rằng hầu hết người dân sẽ có thể hấp thu đủ vitamin D cần thiết từ chế độ ăn hàng ngày và cố gắng tận dụng nguồn vitamin ít ỏi từ những ngày có nắng, nhưng thực tế vitamin D chỉ có thể tích trữ trong cơ thể 60 ngày.

Tỷ lệ người dân ở Scotland bị bệnh tim cao có thể do ánh nắng Mặt Trời tại vùng này nhạt và mùa hè ngắn nên thiếu vitamin D. Đây cũng là một trong những lý do để giải thích thực tế số người mắc bệnh tim ở Anh cao hơn so với vùng Nam Âu.
Theo TTXVN

Vitamin D có tác dụng tăng cường khả năng miễn dịch, giữ cho xương chắc khỏe phòng  chống lại các căn bệnh ung thư, đặc biệt là ung thư đại tràng.

Nếu thiếu vitamin D thì cơ thể không thể hấp thu canxi và phospho trong thức ăn, dẫn đến lượng canxi và phospho trong máu giảm, xương dễ trở nên xốp và giòn, trẻ em có thể dẫn đến còi xương, người lớn nhất là phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh và mãn kinh dễ bị loãng và nhuyễn xương. Các hãng sữa nhấn mạnh hàm lượng calcium trong sữa có khả năng làm xương chắc khỏe tuy nhiên nếu thiếu Vitamin D thì bạn có uống sữa nhiều đến mấy vẫn cứ bị loãng xương như thường. Ở các nước nhiệt đới rất ít khi bị mắc bệnh thiếu vitamin D do khả năng tổng hợp vitamin D của da dưới tác dụng của ánh nắng mặt trời.

Tầm quan trọng của vitamin D3 với cơ thể con người

Vai trò của Vitamin D3 

Vitamin D3(Cholecalciferol) có vai trò rất quan trọng trong quá trình tạo xương nhờ tác dụng lên chuyển hóa các chất vô cơ mà chủ yếu là Canxi và phosphat. Vitamin D3¬ làm tăng hấp thu Canxi và phosphat ở ruột, tăng tái hấp thu Canxi ở ống lượn gần, tham gia vào quá trình Canxi hóa sụn tăng trưởng. Ngoài ra Vitamin D3 còn tham gia vào quá trình biệt hóa tế bào biểu mô.

Vitamin D3 còn tham gia vào điều hoà chức năng một số gen. Ngoài ra, còn tham gia một số chức năng bài tiết của insulin, hormon cận giáp, hệ miễn dịch, phát triển hệ sinh sản và da ở nữ giới.

Vai trò quan trọng nhất của vitamin D3 là duy trì nồng độ canxi trong máu. Do đó, nhiều bác sĩ khuyến cáo cần bổ sung khoảng 400 đơn vị vitamin D3 mỗi ngày trong khi uống canxi.

Bác sỹ Sherwood Brown, giáo sư tâm thần học thuộc Trung tâm Y khoa, trường Đại học Tây Nam Texas Dallas và các đồng nghiệp cho biết liều vitamin D3 sử dụng ở mức cao sẽ giúp giảm đáng kể tình trạng suy nhược, nhất là những người trước đây đã có tiền sử bị suy nhược.

Davin France Calcium - Bổ sung canxi, vitamin D3 cho cơ thể hàng ngày.

Sản phẩm được các bác sĩ và chuyên gia chăm sóc sức khỏe khuyên dùng

Thiếu Vitamin D3 có nguy cơ gây ra các bệnh gì ?

Theo một nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Y khoa Mayo mới đây do nhóm các nhà khoa học Mỹ thực hiện (kiểm tra 12.600 người tham gia trong khoảng thời gian từ cuối năm 2006 đến cuối năm 2010) cho biết, sự thiếu hụt vitamin D ở một số trường hợp có liên quan đến các vấn đề về sức khỏe từ bệnh tim mạch cho đến các biểu hiện ở thần kinh.

Theo một nghiên cứu khác với trên 13.000 người Mỹ tuổi trên 20 cho thấy những người có nồng độ vitamin D thấp có nguy cơ tử vong tăng 26% so với những người có nồng độ vitamin D bình thường.  Một phân tích tổng hợp kết quả nghiên cứu từ các nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên cho thấy bổ sung vitamin D với liều lượng 300-2000 IU/ngày giảm nguy cơ tử vong 7% sau 3 năm theo dõi.

Kết quả nghiên cứu lâm sàng mới công bố trên một tập san y khoa bên Mĩ cho thấy phụ nữ được bổ sung vitamin D và calcium giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư gần 80%.  Quan trọng hơn, nồng độ vitamin D trong máu càng cao, nguy cơ mắc bệnh ung thư càng thấp;  và ngược lại, những người có nồng độ vitamin D thấp thì nguy cơ mắc bệnh ung thư tăng cao.  Phát hiện trên đây có ý nghĩa rất lớn đến việc phòng chống ung thư và bệnh tật ở qui mô cộng đồng, bởi vì bổ sung vitamin D tương đối rẻ tiền và cũng không gây ra những ảnh hưởng phụ nguy hiểm.

Khi thiếu Vitamin D3, ruột không hấp thu đủ Canxi và phospho làm Canxi máu giảm, khi đó Canxi bị huy động từ xương ra để ổn định nồng độ calci máu nên gây hậu quả làm trẻ em chậm lớn, còi xương, chân vòng kiềng, chậm biết đi, chậm kín thóp. Người lớn sẽ bị loãng xương, xốp xương, xương thưa dễ gãy. Phụ nữ mang thai thiếu Vitamin D3 có thể sinh ra trẻ khuyết tật ở xương.

Một số nghiên cứu gần đây còn cho thấy vitamin D đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hệ thống miễn nhiễm.  Bác sĩ John Cannel có một kinh nghiệm thú vị trong nhà tù ở Los Angeles (Mĩ).  Khoảng 10 năm trước, nhà tù trải qua một trận dịch, rất nhiều tù nhân bị cảm cúm.  Tuy nhiên, có hai khu mà không tù nhân nào bị cảm cả, và khi kiểm tra thì mới biết hai khu này các tù nhân được cho uống vitamin D 2000 IU/ngày trước đó vài tháng.

Trong một nghiên cứu lâm sàng trên 67 bệnh nhân lao, khi họ được bổ sung vitamin D với liều lượng 10.000 IU/ngày sau 6 tuần, họ không có bất cứ triệu chứng đàm trong phổi.  Ngược lại, nhóm không uống vitamin D thì có 77% có đàm trong phổi.  Một quan sát tương tự ở London cũng đi đến kết luận rằng bổ sung vitamin D có khả năng điều trị bệnh lao phổi.

Tình trạng thiếu vitamin D

Nghiên cứu dịch tễ học cho thấy những người sống ở các vùng với độ vĩ tuyến cao (như các nước bắc Âu, bắc Mĩ) mắc bệnh ung thư, xơ cứng bì, viêm khớp, đái tháo đường, tim mạch, tai biến, hay bị nhiễm trùng, v.v… Những vùng này cũng là những vùng thiếu vitamin D trầm trọng.  Mới đây, có nghiên cứu cho thấy tỉ lệ thiếu vitamin D trong dân số ở các nước bắc Âu và bắc Mĩ lên đến 50-70%.  Các giới chức y tế ở đây xem đó là một vấn nạn y tế công cộng, nên họ có chính sách bổ sung vitamin D trong thực phẩm như bơ sữa, nước cam, và bánh mì.

vitamin D được sản xuất từ ánh nắng mặt trời, người ta thường lầm tưởng rằng ở những nước nhiệt đới như nước ta, không có vấn đề thiếu vitamin D.  Sự thật là ngược lại: một tỉ lệ lớn dân số trên thế giới, kể cả các nước nhiệt đới, thiếu vitamin D.  Theo ước tính của các chuyên gia, 40-50% dân số trên thế giới thiếu vitamin D.  Nghiên cứu ở Thái Lan và Mã Lai cho thấy cứ 100 người thì có khoảng 50 người thiếu vitamin D.  Riêng ở Nhật và Hàn Quốc, tỉ lệ thiếu vitamin D lên đến 80-90%!  

Ở Việt Nam, chưa có một nghiên cứu nào đánh giá về tình trạng thiếu vitamin D trong cộng đồng. Ngày nay, nhiều người có lẽ do muốn giữ làn da trắng, nên người ta thường bao kín mít tay, chân, mặt để … chống nắng.  Thói quen này có thể dẫn đến tình trạng thiếu vitamin D trong cơ thể nghiêm trọng.  Nếu các nghiên cứu trong vùng là những tín hiệu, chúng ta có thể đoán rằng tỉ lệ thiếu vitamin trong dân số cũng khoảng 40%.

Bạn có thể mua Vitamin D3 tại trang Amazon hoặc các trang khác của Mỹ:

- Dạng viên: tại đây
- Dạng giọt: tại đây
- Cho trẻ em: tại đây

Sưu tầm

Làm cách nào để bỏ đói tế bào Ung thư?

Chúng ta ăn như thế nào để bỏ đói tế bào ung thư?

Tiếp theo các bài viết về chế độ ăn uống cho người bệnh Ung thư YHCTVN sưu tầm thêm được bài nói chuyện của bs William Li rất hữu ích, xin đăng tải dể các bạn đọc tham khảo.

Bài nói chuyện của bác sĩ William Li về một phương thức tiếp cận mang tính đột phá trong y học để chữa trị nhiều bệnh hiểm nghèo, nhất là các loại ung thư và béo phì, dựa trên những hiểu biết mới của bộ môn "angiogenesis" về cơ chế tạo mạch máu. Những hiểu biết này còn giúp tất cả chúng ta có thói quen ăn uống lành mạnh hơn để có đời sống khỏe mạnh và tuổi thọ cao hơn. 

(Nhấp vào link bên dưới để xem Video Clip)

https://www.youtube.com/watch?feature=player_detailpage&v=zijxTWKKUrY


Đàn ông ăn cà chua tăng khả năng làm cha

ca-chua-9790-1399620040.jpgĂn cà chua có thể làm tăng khả năng sinh sản của nam giới bởi một hợp chất chính trong cà chua giúp tăng 70% số lượng tinh trùng.

Theo một nghiên cứu, chất dinh dưỡng quan trọng trong cà chua đỏ có thể thúc đẩy khả năng sinh sản của nam giới. Chấy lycopene trong trái này có thể làm tăng số lượng tinh trùng đến 70%. Một nhóm hỗ trợ những người vô sinh đang tiến hành một cuộc điều tra kéo dài một năm để xác nhận rằng, liệu sự gia tăng lượng lycopene hàng ngày có thể giúp thụ thai dễ hơn hay không.

Karen Veness, phát ngôn viên của Mạng hiếm muộn (Anh) cho biết: “Chúng tôi hoàn toàn lạc quan về phát hiện này. Chúng phù hợp với thông điệp mà chúng tôi đang cố gắng tìm kiếm, chúng tôi rất muốn tiến hành một nghiên cứu quan sát lâm sàng để xem liệu có thể giúp đỡ những người đàn ông có con hay không. Có một giả định cho rằng vô sinh là vấn đề của phụ nữ vì họ là những người mang thai, nhưng thật ra đó là vấn đề về chất lượng hoặc khả năng của tinh trùng”.

Báo cáo được công bố bởi trung tâm Cleveland Clinic tại Ohio đã xem xét 12 nghiên cứu của các nhóm khác nhau trên thế giới. Tất cả nghiên cứu đều cho thấy lycopene giúp cải thiện số lượng tinh trùng và tốc độ bơi của chúng, đồng thời giảm thiểu số lượng tinh trùng bất thường.

Ashok Agarwal, trưởng nhóm nghiên cứu, Giám đốc Trung tâm Cleveland Clinic về Y học Sinh sản cho biết, khảo sát chung cho thấy lycopene có lợi cho cơ quan sinh sản của nam giới.

Nhiều nghiên cứu khác đã chỉ ra các chất dinh dưỡng làm giảm bệnh về tuyến tiền liệt (tuyến sản sinh tinh trùng), có thể làm chậm hoặc thậm chí ngăn chặn quá trình tiến triển của ung thư tuyến tiền liệt. Nhóm của Ashok vừa bắt đầu một thử nghiệm bổ sung lycopene cho những người đàn ông vô sinh không rõ nguyên nhân. Ông hy vọng kết quả sẽ được công bố vào năm tới.

Ông nói: “Cần có các thử nghiệm lớn hơn để phân tích tác động của lycopene đến vấn đề vô sinh ở nam giới. Chúng tôi cần so sánh sự bổ sung licopene trong đàn ông vô sinh với nồng độ tinh trùng ban đầu của họ”. Những phát hiện trên đều được các chuyên gia vô sinh Anh chào đón, họ hy vọng mở ra một cơ hội mới cho những người đàn ông hiếm muộn.

Thi Trân (Theo The Health)
Nguồn VNExpress

7 sự thật bất ngờ về hiếm muộn

Nếu đang chữa vô sinh thì bạn cần tránh ăn quá nhiều sữa không béo hay tập thể dục thể thao quá nhiều... vì đây là những yếu tố có thể ảnh hưởng đến cơ hội mang thai.

Vô sinh là vấn đề rất nhạy cảm, có thể khiến nhiều phụ nữ cảm thấy cô đơn nếu không được làm mẹ. Theo Hiệp hội Y học Sinh sản Mỹ, vô sinh ảnh hưởng đến 7,3 triệu đôi ở Mỹ và chiếm 12% dân số trong độ tuổi sinh sản của nước này. Khi nghiên cứu về vô sinh, các nhà khoa học khám phá ra, có rất nhiều điều tưởng như không liên quan lại có thể góp phần phá hoại những nỗ lực mang bầu của bạn.
Trong thực tế, một nghiên cứu mới cho biết căng thẳng có thể tăng gấp đôi nguy cơ vô sinh của phụ nữ, tuy nhiên, một hành động đơn giản như đi dạo 20 phút mỗi ngày có thể giúp người đó tăng cơ hội có con trở lại. Mang thai không bao giờ là dễ dàng, nhưng nếu muốn có con, bạn nên lưu ý những điều sau.

1. Tập luyện quá nhiều có thể ảnh hưởng tới khả năng mang thai

Rõ ràng tập thể dục rất tốt cho sức khỏe thể chất và tinh thần của bạn. Ngoài ra, bạn cũng khó mang bầu nếu quá thừa cân hay quá thiếu cân. Tuy nhiên, không hẳn những phụ nữ càng có phom chuẩn, càng khỏe mạnh càng dễ mang bầu. Theo các nhà nghiên cứu tại ĐH Khoa học và Công nghệ Na Uy, 7% phụ nữ Na Uy có vấn đề khả năng sinh sản. Sau đó, họ đã tiến hành một nghiên cứu với sự tham gia của 3.000 phụ nữ và thấy rằng một chế độ tập luyện đầy đủ và khắc nghiệt đã giảm khả năng sinh sản của những người này.

tap-luyen-7888-1399938158.jpg
Chế độ tập luyện khắc nghiệt có thể làm giảm khả năng đậu thai của phụ nữ. Ảnh: madailylife.com

2. Bất lợi của nhóm máu O

Các nhà khoa học của ĐH Yale và trường cao đẳng y tế Albert Einstein (Mỹ) phát hiện ra rằng, trong số nữ bệnh nhân chữa vô sinh ở độ tuổi 30, những người có nhóm máu O nhiều gấp đôi các nhóm máu khác bởi người có nhóm máu O có nội tiết tố khiến buồng trứng của họ dường như già hơn so với tuổi.

3. Các vấn đề về sinh sản có thể khiến vợ chồng bạn gần nhau hơn

Nếu bạn lo lắng rằng sự căng thẳng của việc cố gắng thụ thai sẽ khiến vợ chồng rời xa nhau thì một nghiên cứu gần đây có thể giúp giải tỏa nỗi lo lắng đó. Một bài báo được đăng trên tạp chí của Hội Phụ sản Bắc Âu cho biết, các nhà khoa học sau 12 năm theo dõi đã phát hiện những đôi chữa trị vô sinh thành công thường gắn bó hơn hẳn nhờ đã nhận thức được và cùng trải qua những khó khăn chung, mà người ta gọi đó là “lợi ích hôn nhân”.

4. Sữa ít béo không tốt cho buồng trứng 

Phụ nữ được khuyến khích uống sữa cho xương chắc khỏe hơn, nhưng bạn có hài lòng về chu kỳ rụng trứng của mình trong thời gian bổ sung thực phẩm này không? Một nghiên cứu của ĐH Harvard cho biết những phụ nữ ăn nhiều sản phẩm sữa ít béo đối mặt với nguy cơ vô sinh do vấn đề rụng trứng nhiều hơn những người ăn ít hoặc không ăn sữa ít béo tới 85%.

5. Thiếu ánh sáng mặt trời có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản

Không phải ngẫu nhiên mà người ta lại gọi mùa hè là mùa yêu thương. Các nhà khoa học của ĐH Graz (Áo) phát hiện ra rằng, trong những tháng mùa đông, phụ nữ rụng trứng ít hơn và khả năng thành công của việc trứng di chuyển và làm tổ trong dạ con cũng giảm. Vitamin D giúp tăng nồng độ của hormone nữ progesterone và estrogen lần lượt là 13% và 21%, điều chỉnh chu kỳ kinh nguyệt và làm tăng khả năng thụ thai.

6. Răng miệng sạch giúp bạn dễ thụ thai hơn

Không ai thích phải đến gặp nha sĩ, nhưng có lẽ bạn cũng không hề biết việc giữ hàm răng sạch có thể ảnh hưởng đến cơ hội mang thai của bạn. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Australia, nha chu hay các bệnh về răng miệng có thể trì hoãn việc thụ thai thành công tới 2 tháng, hoặc thậm chí nhiều hơn. Họ thấy rằng những phụ nữ có bệnh về răng miệng phải mất trung bình 7 tháng “thả” mới có thể mang bầu, trong khi những phụ nữ không có bệnh răng miệng chỉ mất trung bình 5 tháng là đậu thai. Nướu sưng phồng và những hố sâu xung quanh chân răng nuôi dưỡng nhiều vi khuẩn. Những vi khuẩn này có thể đi vào máu, làm viêm nhiễm bên trong, giảm cơ hội đi vào dạ con của trứng.

7. Thói quen ăn bỏng ngô gây hại

Đi chơi buổi tối và ăn vặt bỏng ngô có thể làm giảm cơ hội có con của bạn trong một thời gian dài. Một nghiên cứu do các nhà khoa học tại ĐH California cho biết, hít phải hơi bốc ra từ các túi bỏng ngô nổ trong lò vi sóng có thể gây hại cho sức khỏe của bạn. Ăn quá nhiều bỏng ngô sẽ khiến diacetyl - một hương liệu nhân tạo dùng để tạo ra vị bơ tích tụ trong máu của bạn, bên cạnh đó còn có Teflon (loại chất dẻo tráng lên bề mặt các thiết bị đun nấu để chống dính) và một số hóa chất khác. Điều đáng sợ hơn là người ta tìm thấy những hóa chất này có trong máu của 95% người Mỹ. Nếu muốn ăn bỏng ngô, tốt nhất bạn hãy tự nổ ở nhà để tránh được những chất phụ gia gây độc hại này.

Hoàng Anh (Theo Your Tango)
Nguồn VNExpress

Chữa vô sinh nhờ lòng đỏ trứng

Một cặp vợ chồng sau 7 năm điều trị hiếm muộn đã hạnh phúc đón đứa con đầu lòng nhờ phương pháp tiêm protein từ lòng đỏ trứng vào cơ thể người mẹ.
 
Cú sốc đến với vợ chồng Lucy và Liam Phasey vào năm 2007 khi họ được kết luận sẽ không bao giờ có thể thụ thai tự nhiên do Lucy có vấn đề sinh sản. Hai vợ chồng bắt đầu điều trị thụ tinh ống nghiệm tại Bệnh viện Shrewsbury và Telford. Trải qua bốn lần nỗ lực nhưng vẫn thất bại, họ không còn đủ khả năng tài chính và niềm tin để tiếp tục. 

Các bác sĩ phát hiện ra rằng hệ thống miễn dịch của Lucy hoạt động quá mức, sản sinh ra các tế bào giết chết trứng đã thụ tinh trước khi chúng có thể phát triển thành phôi.

Bé Evie Ray chào đời sau 9 năm chờ đợi của cặp vợ chồng hiếm muộn. Ảnh:
Bé Evie Ray chào đời sau 9 năm chờ đợi của cặp vợ chồng hiếm muộn. Ảnh: The News UK

Tình cờ được một trung tâm điều trị vô sinh giới thiệu, Lucy tiến hành điều trị bằng phương pháp tiêm hợp chất Intrapipid bào chế từ lòng đỏ trứng, dầu đậu nành, glycerin và nước vào cơ thể. Phương pháp này nhằm giảm bớt hoạt động tế bào giết chết trứng trong hệ thống miễn dịch để tạo điều kiện cho việc thụ thai. 

Chỉ sau vài tháng, Lucy phát hiện mình mang thai. Tháng 2/2014, bé Evie Ray chào đời trong niềm hạnh phúc tràn ngập của bố mẹ tại Bệnh viện Wrexham Maelor. Liam Phasey như không tin mình thực sự có thể làm bố cho đến khi tự tay bế con.

"Tôi từng nhiều lần thuyết phục Liam chia tay mình để có con với người phụ nữ khác vì tôi cảm thấy không thể làm cho anh hạnh phúc. Và thật tuyệt vời khi cuối cùng chúng tôi đã có được đứa con xinh xắn sau 9 năm chờ đợi", Lucy tâm sự.

Lucy và Liam đang tận hưởng sự tuyệt vời bên bé Evie như một giấc mơ mà họ chờ đợi hằng bao năm dài.
Lucy và Liam đang tận hưởng sự tuyệt vời bên bé Evie như một giấc mơ mà họ chờ đợi hằng bao năm dài. Ảnh: The News UK

Cặp vợ chồng vẫn chưa quyết định xem sẽ cố gắng tiếp tục sinh nữa hay không. Họ đang tận hưởng sự tuyệt vời bên bé Evie như một giấc mơ mà họ chờ đợi hằng bao năm dài. 

Trước đó, một số cặp vợ chồng người Anh áp dụng phương pháp này để mang thai sau nhiều lần thụ tinh nhân tạo không thành công. 

Lê Phương (Theo The News UK)
Nguồn VNExpress

10 đột phá y học của năm 2013 ngỡ chỉ có trong phim viễn tưởng

Mắt “mô phỏng sinh học” (Dân trí) - 10 phát minh công nghệ dưới đây trong y học được các chuyên gia tại Bệnh viện Cleveland Clinic, Mỹ đánh giá là “những đột phá thực sự mang lại những thay đổi có ý nghĩa cho cuộc sống của nhiều người”.

Mắt “mô phỏng sinh học”

Có tên là “Argus II”, thiết bị mắt “phỏng sinh học” thu nhận tín hiệu video từ một camera gắn trên kính và truyền hình ảnh “không dây” về bộ tiếp nhận cấy trên võng mạc của người bị mất thị lực. Mặc dù đã được phê chuẩn ở châu Âu từ năm 2011, song phải đến đầu năm nay Cơ quan  Quản lý Thuốc và Thực phẩm Mỹ mới phê chuẩn thiết bị “như phim viễn tưởng này”.

Hệ thống hiện còn chưa hoàn hảo. Nó giúp người mù những chức năng cơ bản như đi bộ trên vỉa hè mà không bị vấp, và phân biệt màu đen với màu trắng, nhưng chỉ giúp người mang đọc được chữ với kích thước lớn bằng màn hình Kindle. Thêm vào đó, khi võng mạc tự liền trùm lên bộ tiếp nhận thì chất lượng hình ảnh bị giảm đi. Argus II hiện mới chỉ được phê chuẩn cho người bị mất thị lực do bệnh sắc tố võng mạc – căn bệnh gặp ở 1/4000 người Mỹ. Nhưng công nghệ này có thể sớm giúp ích cho hơn 1.75 triệu người bị thoái hóa hoàng điểm

Nhận dạng gen ung thư

Thiết bị chặn đứng cơn động kinhKhông phải tất cả các loại ung thư đều ác tính như nhau -  ví dụ người bị ung thư tuyến tiền liệt sẽ có khả năng sống thêm lâu hơn những người bị ung thư não. Nhưng ngay cả ung thư tuyến tiền liệt cũng có nhiều dạng - từ có thể điều trị được tới tiên lượng cực kỳ xấu. Bằng cách phân tích bộ gen đột biến của khối u, các bác sĩ có thể chỉ ra liệu ung thư đó có nhạy cảm với một dạng hóa trị liệu nào đó hay không, hay là hoàn toàn không đáp ứng với tất cả các điều trị hiện có. Việc biết được thể bệnh sẽ giúp chuyển thẳng sang thử nghiệm lâm sàng có thể cứu sống tính mạng người bệnh
 
Thiết bị chặn đứng cơn động kinh

Đối với hơn 840.000 người Mỹ đang bị những cơn co giật đột ngột không kiểm soát được của bệnh động kinh, thì thiết bị NeuroPace giống như “máy khử rung dành cho não”. Hệ thống bao gồm những cảm biến cấy trong não có thể phát hiện những cơn “run rẩy” đầu tiên của cơn động kinh sắp xảy ra. Khi đó nó sẽ phát đi những xung điện vô hiệu hóa những tín hiệu “nhiễu loạn” của não, chặn đứng cơn động kinh. Điều ấn tượng hơn là các bác sĩ có thể “tinh chỉnh”

NeuroPace dựa trên hoạt động của nó. Trong năm đầu tiên mang thiết bị này, số cơn động kinh giảm trung bình 40% - nhưng 2 năm sau đó, con số  giảm là 53%.

Chữa khỏi bệnh viêm gan

Cho đến gần đây, viên điều trị viêm gan C rơi vào thế “tốt thì có tốt, nhưng không tuyệt vời lắm”, với chỉ có khoảng 70% số bệnh nhân được chữa khỏi. Và kết quả này chỉ đạt được sau 48 tuần với phác đồ thuốc chống vi rút nghiêm ngặt, bao gồm nhiều mũi tiêm interferon – thường gây những tác dụng phụ nặng nề. Những loại thuốc mới có tên là Sofosbuvir có công dụng điều trị viêm gan C mạnh hơn nhiều, với thành công đạt được ở 95% số bệnh nhân. Hơn nữa, thuốc được uống trong 12 tuần, không cần tiêm interferon.

IPad của bác sĩ gây mê

Bác sĩ phẫu thuật thường nhận được những ánh mắt kính nể, nhưng để bạn “sống sót” qua ca mổ, có lẽ bác sĩ gây mê hồi sức mới là người đóng vai trò quyết định. Họ là khuôn mặt cuối cùng mà bạn nhìn thấy trước khi chìm vào giấc ngủ nhờ thuốc mê. Ngoài việc theo dõi nhịp tim, nhịp thở và chức năng não của bạn, bác sĩ gây mê hồi sức còn phải thông thuộc các giai đoạn của thủ thuật để có thể điều chỉnh liều thuốc an thần và giảm đau mà không gây biến chứng.

“Hệ thống quản lý thông tin quanh cuộc mổ” mới bao gồm phần mềm trên màn hình cảm ứng có thể cảnh báo các bác sĩ nếu có điều gì đó xảy ra, đi đúng tiến trình của các sĩ phẫu thuật, và ghi lại tất cả các bước của thủ thuật. Tất cả những điều này là hết sức quan trọng khi có những ca mổ kéo dài tới 16 giờ đồng hồ và thông tin cần được chuyển giao từ kíp trước cho kíp sau.

“Ghép…chất thải”

Ý tưởng lấy “chất thải” từ ruột người khác để đưa vào ruột mình nghe thật “kinh dị”, nhưng cách điều trị này đã được chứng minh là có hiệu quả rõ rệt để chữa khỏi nhiễm C. difficile – một loại vi khuẩn giết chết 15.000 người Mỹ mỗi năm. Nhưng hãy yên tâm, các nhà nghiên cứu Canda đã triển khai một phương pháp để chỉ đưa vi khuẩn có trong “chất thải” của người cho vào người nhận qua thuốc uống. Bạn sẽ không phải nhận những cặn bã thức ăn, mà chỉ đơn giản là đưa vào cơ thể một số vi khuẩn có ích sống trong ruột của người cho – giống như nhà nông chọn những hạt giống tốt nhất để gieo trồng trên mảnh đất của mình.

Hoóc môn “bà bầu” bảo vệ tim

Khoảng 1/4 số người phải nhập viện vì suy tim sẽ phải đầu hàng số phận sau không quá một năm. Nhưng loại thuốc mới có tên là Serelaxin đã làm tăng khả năng sống thêm 37%, . Đấy là phiên bản tổng hợp của hoóc môn relaxin, thường được sản sinhra trong cơ thể người mẹ khi mang thai để giúp tim thích nghi với stress do thai nghén gây ra. Hoóc môn này không chỉ giúp mạch máu thông thoáng của cung cấp ô xi cho các cơ quan, mà còn có đặc tính chống viêm. Khả năng cứu sống bệnh nhân của Serelaxin ấn tượng đến mức FDA đã gọi đây là “liệu pháp đột phá” và đưa nó vào quy trình phê chuẩn nhanh cho các bệnh viện.
 

Robot bác sĩ

Robot bác sĩNếu phải soi đại tràng, bạn sẽ muốn dùng thứ thuốc gì đó để đỡ đau. Nhưng ngay cả liều thuốc giảm đau an thần nhẹ để giúp bạn thiếp đi trong khi bác sĩ làm thủ thuật cũng cần sự cs mặt của bác sĩ gây mê – nghĩa là chi phí y tế sẽ bị tăng thêm một khoản đáng kể - chừng một tỷ đô la mỗi năm ở Mỹ, theo một nghiên cứu trên tờ Journal of the American Medical Association.

Giải pháp cho vấn đề này là Sedasys: một thiết bị gồm máy tính nối với đường truyền tĩnh mạch có gắp đồng hồ đo lượng thuốc giảm đau an thần và theo dõi các chỉ số sinh tồn. Thậm chí nó còn bao gồm cả tai nghe để đánh thức bệnh nhân nếu cần. Thiết bị này cho phép bác sĩ tự cho bệnh dùng liều thuốc an thần “từ nhẹ đến vừa phải” và mọt bác sĩ gây mê có thể theo dõi nhiều bệnh nhân. .

Xét nghiệm phát hiện nguy cơ đau tim chính xác hơn

Hiện nay mọi người thường làm xét nghiệm cholesterol để đánh giá nguy cơ đau tim, nhưng nồng độ trimethylamine N-oxide (TMAO) mới là thứ đáng lo ngại hơn. Những người có nồng độ TMAO cao nhất trong máu có nguy cơ bị đau tim cao gấp 2,5 lần người có nồng độ thấp nhất. TMAO là chất được các vi khuẩn ruột tạo ra khi bạn ăn cholin – có trong trứng, thịt đỏ và sữa.
Khi có mặt trong máu, TMAO thúc đẩy cholesterol tạo thành những mảng bám trong động mạch. Đó là lý do tại sao thịt đỏ lại có hại. Ngoài việc tránh ăn thịt đỏ, xét nghiệm TMAO còn mở đường cho những bước phòng bệnh tiếp theo như sử dụng vi khuẩn có lợi (probiotics) hoặc thuốc để chặn đứng quá trình sản sinh TMAO.

Điều trị ung thư trúng đích

Mục tiêu khó khăn nhất trong điều trị ung thư là tiêu diệt khối u mà không “đụng chạm” đến những tế bào bình thường. Hiểu biết mới đây về điều gì khiến các tế bào ung thư “sống dai” như vậy đã cho phép các nhà khoa học phát triển một nhóm thuốc nhằm đúng vào “tử huyệt” trong quá trình phát triển không kiểm soát được của ung thư. Ví dụ, trong bệnh lympho và bệnh bạch cầu (ung thư máu), các nhà nghiên cứu đã xác định được rằng sự tăng sinh của bệnh được kiểm soát bởi một protein có tên là Bruton's tyrosine kinase (BTK). Sau một năm thử nghiệm, các bác sĩ đã triển khai được loại thuốc mới có tên Ibrutinib, ngăn chặn BTK.

Hai nghiên cứu trên tờ New England Journal of Medicine thấy rằng loại thuốc mới đã giúp ích cho 71% số bệnh nhân bị bệnh bạch cầu mạn và 68% số bệnh nhân bị u lympho không Hodgkin. Quan trọng nhất là Ibrutinib thực sự tiêu diệt u lympho mà không gây hại cho hệ miễn dịch. Điều này mở ra con đường dẫn tới cả một nhóm thuốc mới đặc trị cho từng loại tế bào ung thư.

Cẩm Tú
Theo foxnews.com
Nguồn Dân trí