BẾ TINH, DƯỠNG KHÍ, TỒN THẦN

THANH TÂM, QUẢ DỤC

THỦ CHÂN, LUYỆN HÌNH

Showing posts with label thực phẩm chức năng. Show all posts
Showing posts with label thực phẩm chức năng. Show all posts

Tác dụng dược lý của CÂY NHÀU - Phần 2 - Một số bài thuốc từ cây Nhàu

Sau đây là tác dụng của cây nhàu.

* Chữa nhức đầu kinh niên, đau nửa đầu: Rễ nhàu 24g, hạt muồng trâu 12g, cối xay 12g, rau má 12g, củ gấu (sao, tẩm) 8g. Đổ nửa lít nước, sắc còn 250ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày, uống lúc thuốc còn nóng.

* Chữa đu lưng, nhức mỏi, tê bại: Rễ nhàu chặt nhỏ phơi khô, sao vàng (chừng 1/2 kg), ngâm với 2 lít rượu 450 trong vòng nửa tháng, trước bữa ăn uống một ly nhỏ.

* Chữa huyết áp cao: Rễ nhàu thái nhỏ phơi khô, mỗi lần 30 - 40g nấu đậm uống thay nước cả ngày. Sau một đợt uống từ 10 - 15 ngày, kiểm tra lại, nếu huyết áp giảm, bớt lượng rễ nhàu từ từ và uống liên tục trên 2 tháng, huyết áp sẽ ổn định.

* Chữa lỵ, tiêu chảy, cảm sốt: Lá nhàu tươi 3-5 lá tươi rửa sạch nấu
với nửa lít nước còn 200ml chia 2 lần uống/ngày. Uống liên tục 3-5 ngày.

* Chữa mất ngủ, suy nhược thần kinh, huyết áp cao: Rễ nhàu 24g, Thảo quyết minh (sao thơm) 12g, rau má 8g, Thổ phục linh 8g, vỏ bưởi 6g, gừng củ 3 lát. Đổ nửa lít nước, sắc còn 250ml. Chia làm 2 lần uống trong một ngày (uống nóng).

* Chữa rối loạn kinh nguyệt ở người cao huyết áp: Quả nhàu 20g, Ích mẫu 20g, Hương phụ (củ gấu) tẩm dấm sao 12g, Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.

* Chữa đau lưng, nhức mỏi chân tay: Quả nhàu già xắt lát mỏng 200g, ngâm với 2 lít rượu. Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 20 – 30ml.

* Chữa đau lưng do thận: Rễ nhàu 12g, rau ngót 8g, cối xay 8g, dây gùi 8g, ngó bần 8g, đậu săng 8g, tầm gửi cây dâu 8g, rễ ngà voi 8g, ngũ trảo 12g. Đổ nửa lít nước, sắc còn 250ml. Chia làm 2 lần uống trong 1 ngày (uống nóng).

* Chữa táo bón ở người cao huyết áp: Ăn quả nhàu với chút muối.

* Chữa đau nhức do phong thấp: Rễ cây nhàu 20g, dây đau xương 20g, củ Khúc khắc (Thổ phục linh) 20g, rễ cỏ xước 20g, cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.

Trong dân gian thường lấy quả nhàu gần chín rửa sạch, để ráo, xắt lát, trộn theo tỷ lệ 1kg nhàu với 2 lạng đường cát, sau 15 ngày ép lấy nước uống dần, mỗi bữa ăn chừng hai ly nhỏ, có tác dụng: Bồi bổ sức khỏe, điều hòa huyết áp, tăng cường khả năng miễn dịch, phục hồi các tế bào bị thương tổn suy yếu, chống viêm nhiễm, giảm đau nhức mệt mỏi cơ thể…

Lá nhàu non nấu canh với lươn, thịt bò bồi bổ cho người vừa lành bệnh, người bị suy nhược cơ thể rất hiệu quả, nhanh hồi phục sức khỏe.
 

* Loại bỏ độc tố: Tăng khả năng hấp thụ, tiêu hóa, sử dụng vitamin, thảo dược và khoáng chất. Có khả năng chống oxy hóa cao giúp ngăn chặn sự hủy hoại những gốc tự do.
* Giảm đau: Chữa những cơn đau trong cơ thể như đau lưng, cổ, đau cơ, thần kinh và những cơn đau như căng thẳng, đau nửa đầu.

* Hỗ trợ hệ miễn dịch: Kích thích việc sản xuất những tế bào T - tế bào đóng vai trò chủ chốt trong việc chống lại bệnh tật. Giúp đai thực bào và tế bào bạch huyết họat động mạnh. Có thể tấn công nhiều loại vi khuẩn, kiềm chế khả năng tiền ung thư và sự phát triển của khối ung thư bằng cách cho phép những tế bào khác thường hoạt động bình thường trở lại. 
* Chống viêm: Có tác dụng trong việc chữa các bệnh liên quan đến cơ và khớp như bệnh viêm khớp, hội chứng nhức xương cổ tay. Giảm đau và giảm sưng vết thương với triệu chứng như vết thâm tím, căng da và bỏng. Hiệu quả trong việc chữa trị vết loét, ngừa phát ban.

* Chữa đau lưng, nhức mỏi chân tay: Quả nhàu già xắt lát mỏng 200g, ngâm với 2 lít rượu. Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 20 – 30ml.

* Chữa đau nhức do phong thấp: Rễ cây nhàu 20g, dây đau xương 20g, củ Khúc khắc (Thổ phục linh) 20g, rễ cỏ xước 20g, cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày. * Chữa bệnh: Nhiều tài liệu khoa học đã cho thấy hữu ích của quả nhàu đối với dạ dày (bệnh tiêu chảy, ợ nóng, buồn nôn, viêm ruột kết, loét dạ dày), cơ quan sinh dục (những vần đề về kinh nguyệt, nhiễm nấm men), gan và lá lách (bệnh đái đường, tuyến tụy), hệ hô hấp (hen suyễn, viêm xoang, bệnh khí thủng), hệ thống nội tiết (bệnh tuyến giáp và tuyến thượng thân), hệ tim mạch (bệnh tim, huyết áp cao, đột quỵ), hệ thần kinh (stress, suy nhược cơ thể, trí nhớ, năng lượng),…

* Chữa huyết áp cao: Rễ nhàu thái nhỏ phơi khô, mỗi lần 30 - 40g nấu đậm uống thay nước cả ngày. Sau một đợt uống từ 10 - 15 ngày, kiểm tra lại, nếu huyết áp giảm, bớt lượng rễ nhàu từ từ và uống liên tục trên 2 tháng, huyết áp sẽ ổn định.

* Chữa lỵ, tiêu chảy, cảm sốt: Lá nhàu tươi 3-5 lá tươi rửa sạch nấu với nửa lít nước còn 200ml chia 2 lần uống/ngày. Uống liên tục 3-5 ngày.

* Chữa mất ngủ, suy nhược thần kinh, huyết áp cao: Rễ nhàu 24g, Thảo quyết minh (sao thơm) 12g, rau má 8g, Thổ phục linh 8g, vỏ bưởi 6g, gừng củ 3 lát. Đổ nửa lít nước, sắc còn 250ml. Chia làm 2 lần uống trong một ngày (uống nóng).

* Chữa rối loạn kinh nguyệt ở người cao huyết áp: Quả nhàu 20g, Ích mẫu 20g, Hương phụ (củ gấu) tẩm dấm sao 12g, Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.

* Chữa đau lưng do thận: Rễ nhàu 12g, rau ngót 8g, cối xay 8g, dây gùi 8g, ngó bần 8g, đậu săng 8g, tầm gửi cây dâu 8g, rễ ngà voi 8g, ngũ trảo 12g. Đổ nửa lít nước, sắc còn 250ml. Chia làm 2 lần uống trong 1 ngày (uống nóng).

* Chữa táo bón ở người cao huyết áp: Ăn quả nhàu với chút muối.

Ngoài cách sắc uống, còn có thể dùng theo các cách sau:

 
- Uống nước ép từ quả nhàu ngay khi bụng còn đói. Uống từng ngụm nhỏ, giữ trong lưỡi và ở cuống họng - điều này đặc biệt tốt đối với những người bị trầm cảm, stress, bị chấn thương…
- Dùng nước ép thoa lên da đầu để cải thiện tình trạng của tóc và da đầu. 

- Chà xát quả tươi lên da để chữa bệnh nấm da và những bệnh liên quan đến da hoặc những vết bầm tím hay những vùng da, xương bị đau. Cũng có thể ngâm 1 lượng nhàu tươi giã nhuyễn vào nước ép quả nhàu và nước ấm, tạo thành một miếng đắp và đắp lên vùng da bạn muốn giảm đau.

- Còn nếu bạn muốn ăn quả Nhàu tươi thì hái quả Nhàu chín cây chấm muối ăn ngay hoặc quả Nhàu già gần chín (mắt quả mở to và chuyển từ màu lục sang trắng hồng), đem vào gấm trong hủ muối cho chín mùi, ăn ngày 1-2 quả. Ăn Nhàu tươi hoặc uống thuốc nhàu thường xuyên rất tốt chứ không có hại gì. Vì nhàu cung cấp cho ta một enzim, giúp cơ thể tiết ra endorphin, một chất được gọi là ma túy nội sinh, giúp ta cảm thấy vui vẻ khoan khoái, giảm đau, chống buồn phiền, giảm căng thẳng thần kinh (stress), nhờ đó giảm huyết áp. Dùng liều cao gấp đôi, có thể giúp các cơn nghiện rượu, nghiện thuốc lá và cả ma túy nếu người nghiện có quyết tâm cao để cai.

- Nếu không có nhiều thời gian có thể dùng quả khô hoặc chế phẩm trà túi lọc, pha uống như trà bình thường.
 
- Lá nhàu non nấu canh với lươn, thịt bò bồi bổ cho người vừa lành bệnh, người bị suy nhược cơ thể rất hiệu quả, nhanh hồi phục sức khỏe.
UỐNG BAO NHIÊU THÌ ĐỦ
Theo những nghiên cứu mới nhất của các nhà khoa học thì:

• Những người khỏe và trẻ tuổi nên uống mỗi ngày khoảng 30ml. 

• Đối với người lớn tuổi hơn, uống 60ml mỗi ngày, buổi sáng và cuối chiều. 
• Nếu bắt đầu chữa bệnh bằng nước ép từ quả nhàu, tháng đầu tiên nên uống khoảng 160ml/ngày. 
• Người bị chấn thương đột ngột hoặc bị giải phẫu nên uống 180-240ml/ngày, sau đó uống đều đặn từ 90-120ml/ngày.
• Những người mắc những bệnh nguy hiểm như ung thư, tiểu đường nên uống thường xuyên từ 180-240ml/ngày. 
• Đối với những trường hợp bệnh nguy hiểm đến tính mạng, nên uống từ 480-600ml/ngày chia thành từng phần nhỏ uống theo giờ, nếu khó uống hết lượng này. Bệnh về mắt thì có thể nhỏ từng giọt nhỏ vào mắt.

Trong dân gian thường lấy quả nhàu gần chín rửa sạch, để ráo, xắt lát, trộn theo tỷ lệ 1kg nhàu với 2 lạng đường cát, sau 15 ngày ép lấy nước uống dần, mỗi bữa ăn chừng hai ly nhỏ, có tác dụng: Bồi bổ sức khỏe, điều hòa huyết áp, tăng cường khả năng miễn dịch, phục hồi các tế bào bị thương tổn suy yếu, chống viêm nhiễm, giảm đau nhức mệt mỏi cơ thể...

* Chú ý kiêng uống rượu, trà, cà phê khi dùng nhàu.


Những dấu hiệu cơ thể cần giải độc

Dù sức khỏe chẳng có vấn đề gì, nhưng không có nghĩa là cơ thể không chứa chất độc. 

Sau nhiều năm vận động, ăn uống với đầy hóa chất trong thực phẩm và rau quả, môi trường sống bị ô nhiễm nặng nề, stress, v.v... đều làm cho cơ thể ta bị "nhiễm độc" nặng nề. Nếu ta làm ngơ, từ sự "nhiễm độc" này chúng ta có thể sẽ mắc phải nhiều căn bệnh nan y và gặp nhiều khó khăn trong điều trị như tim mạch, gan, thận, ung thư, v.v...

Một chiếc xe cho dù là mới mua, nhưng chạy một thời gian ta còn phải đưa đi "bảo dưỡng", còn cơ thể ta làm việc liên tục trong mấy chục năm mà không được bảo dưỡng thì sẽ như thế nào? Vậy để cơ thể chúng ta có thể hoạt động lâu dài và tốt hơn thì rất cần được thanh lọc, đào thải các chất độc ra bên ngoài. Lẽ ra việc "thải độc" cần được làm liên tục, nhưng vì ai cũng bận rộn với cuộc sống mà hay lãng quên điều này, nên nếu bạn thấy cơ thể có một số dấu hiệu sau thì đã đến lúc bạn cần phải "giải độc khẩn cấp":

Nám da. Thay đổi nội tiết, bị bệnh gan, nghiện rượu, ánh nắng mặt trời... là những nguyên nhân gây nám da. Nhiều người tin rằng sau một thời gian các vết nám sẽ dần mất đi, nhưng điều này hiếm khi xảy ra nếu không tìm được nguyên nhân chính xác gây bệnh. Khi thấy những vết nám xuất hiện, đầu tiên bạn nên nghĩ ngay đến việc giải độc cho cơ thể. Chúng ta đã biết, một trong những nhiệm vụ chính của gan là sản xuất mật để tiêu trừ các chất độc và giúp tiêu hóa. Do vậy gan khỏe mạnh thì da đẹp, mịn màng. Giải độc cho cơ thể thường xuyên được xem là cách làm sạch da, tránh hình thành nám và tàn nhang.

Tăng cân. Mặc dù đã áp dụng nhiều biện pháp giảm cân, nhưng càng thực hiện, trọng lượng cơ thể vẫn không nhúc nhích. Thủ phạm gây béo phì không chỉ do việc tiêu thụ quá nhiều chất béo, mà còn có sự góp mặt của các độc tố tập trung gần các hạch bạch huyết dưới dạng dịch thể kết dính như bọt biển. Các nghiên cứu y học phát hiện cơ thể người chứa bình quân 5 - 11 kg độc tố, phải thải hết những độc tố đó ra ngoài mới mong có được trọng lượng như ý.

Ngứa da. Làn da ngứa ngáy khiến bạn khó chịu. Có rất nhiều nguyên nhân gây ngứa da như: dị ứng, bẩn, phát ban, côn trùng đốt, tác dụng phụ của một số loại thuốc... trong đó không nên loại trừ nguyên nhân do cơ thể chứa quá nhiều chất độc. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh tinh thần căng thẳng hay bị rối loạn nội tiết đều tạo ra các chất độc cho cơ thể, gây ngứa da. Da là cơ quan giải độc lớn nhất của cơ thể. Mọi độc tố đều thông qua tuyến mồ hôi dưới da để đi ra ngoài, vì thế hãy nhanh chóng thanh lọc các chất độc để cơ thể được khỏe mạnh. 

Táo bón. Nhịp điệu bất thường của cuộc sống hiện đại cộng với môi trường ô nhiễm và chế độ dinh dưỡng không hợp lý là những nguyên nhân gây táo bón. Táo bón lâu dài không chỉ khiến da thô ráp, xuất hiện mụn trứng cá mà còn làm các chất được tích tụ trong cơ thể sản sinh các chất độc nguy hiểm. Vì vậy, việc giải độc cơ thể để giảm táo bón là điều hết sức cần thiết. 

Hơi thở có mùi. Miệng hôi có nhiều nguyên nhân như: sâu răng, thuốc lá, viêm nha chu, nhịn đói, thức ăn dính giữa các kẽ răng bị vi khuẩn phân hóa... Ngoài ra, cũng có thể do thực phẩm lắng đọng lâu ngày trong cơ thể chuyển thành chất độc và tạo ra mùi hôi. Các chất độc này thường đến từ phổi, lá lách hay dạ dày. 

Một số phương pháp giải độc cơ thể hiệu quả là: uống nhiều nước; hạn chế bia rượu, cà phê; bổ sung lợi khuẩn (probiotics), ăn nhiều rau xanh và trái cây chứa vitamin C, tránh căng thẳng... và dùng các thực phẩm chức năng có tác dụng thải độc mạnh.

Hạ Yên

Chlorophyll - Từ nghiên cứu đạt Giải thưởng Nobel tới ứng dụng thực tế

Giáo sư Richard W.Statter đã có công trình nghiên cứ và phát hiện ra rằng: Cấu tạo tế bào hồng cầu gần như đồng nhất với cấu tạo tế bào diệp lục, giúp tăng lượng hồng cầu trong cơ thể. Và công trình này đã đoạt được giải thưởng Nobel vào năm 1915.
 
Tới năm 1930 – Giáo sư Han Fisher đã đạt  giải thưởng Nobel với nghiên cứu cũng về Diệp lục với tên gọi: Chlorophyllin giúp cơ thể loại thải các chất độc tố một cách hiệu quả nhất.

Chlorophyll là chất có màu xanh lá cây trong thực vật được tạo thành trong quá trình quang hợp, nó cho phép cây xanh hấp thụ ánh sáng mặt trời và chuyển phần ánh sáng đó sang dạng năng lượng sử dụng được. Chlorophyll giúp thúc đẩy các enzim chống oxy hóa tự nhiên trong cơ thể, thường được các nhà nghiên cứu thảo mộc sử dụng trong công đoạn cuối cùng để làm sạch hệ thống tiêu hóa.

Từ 2 công trình nghiên cứu khoa học đạt giải thưởng Nobel nói trên, hãng Synergy Worldwide (thuộc tập đoàn Nature's Sunshine - Mỹ) đã sản xuất ra sản phẩm có tên gọi CHLOROPHYLL với nhiều tác dụng hữu ích đối với cơ thể con người.

Chlorophyll của Synergy Worldwide được chiết xuất từ cây cỏ linh lăng (Alfalfa) – một loại thực vật có nguồn gốc từ Trung cận Đông, có rễ ăn sâu xuống đất trung bình 10m – 30m, hàm lượng chlorophyll cao gấp 4 lần cây xanh bình thường. Rễ cây linh lăng hấp thụ nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể.

Chức năng của Cỏ linh lăng là một loại thực vật bồi bổ sức khỏe bậc nhất, được mệnh danh là “Vua của các loại thảo mộc”.

THÀNH PHẦN: 

Cỏ linh lăng: được sử dụng như một chất kích thích ăn uống và hỗ trợ tiêu hóa. Cỏ linh lăng cung cấp các vitamin và khoáng chất bao gồm Vitamin A, B1, B6, C, E, K, Canxi, Kali, Sắt và Kẽm. Cỏ linh lăng cũng là một nguồn thực phẩm chức năng tuyệt hảo gồm Carotin và Chlorophyll.

Cây dâu tằm: có hàm lượng chất diệp lục cao

Lúa mạch: là nguồn vitamin, khoáng chất và Protein, bao gồm Canxi, Sắt, Kali, Enzim, Vitamin C, E, B12 và đặc biệt lúa mạch chứa chất chống oxy hóa cao. 

Cây bạc hà: là loại thảo mộc có hương thơm thường được sử dụng để xoa dịu hệ thống tiêu hóa trong nhiều thập kỷ qua. Nghiên cứu cho thấy dầu bạc hà có thể giúp ngăn chặn vi khuẩn, virus và một số loại nấm trong cơ thể.

Ưu điểm của Chlorophyll

- Chlorophyll là sản phẩm được tinh chế hết sức bài bản và cẩn thận, đòi hỏi hơn 15 phương thức kỹ thuật tinh chế từ dạng nguyên thô đến dạng cô đặc, được tinh lọc kỹ càng để có thể thích ứng với việc dùng bên ngoài và bên trong cơ thể con người.

- Sản phẩm Chlorophyll hoàn toàn không có hóa chất, chất bảo quản và độc tố gây hại cho cơ thể con người.

TÁC DỤNG

1.  Chống thiếu máu
Một trong những nguyên nhân dẫn đến thiếu máu là do chế độ dinh dưỡng cung cấp thiếu chất Sắt. Vì Chlorophyll có cấu tạo gần giống với tế bào hồng cầu, và chứa Sắt nên rất hiệu quả trong việc chống thiếu máu.

Thải độc
Chlorophyll giúp thúc đẩy các enzim chống oxy hóa tự nhiên trong cơ thể, nên có thể làm sạch hệ tiêu hóa, đào thải độc tố rất hữu hiệu.

Điều trị mụn
Nghiên cứu đã chứng minh trong máu của những người bị mụn thường thiếu Kẽm. Kẽm tác động trực tiếp đến hoạt động của tuyến bã nhờn. Thiếu Kẽm, tuyến bã nhờn hoạt động mạnh, da tiết ra nhiều dầu, nhanh chóng gây sừng hóa nang lông, làm gia tăng khả năng hình thành nhân mụn. Chlorophyll cung cấp chất Kẽm và làm mát gan, giúp điều trị các loại mụn, giúp cơ thể có sức đề kháng tốt, tránh được tình trạng viêm nhiễm da khi bị mụn, mụn sẽ không có cơ hội lây lan.

Ức chế sự phát triển vi khuẩn
Chlorophyll có khả năng sát khuẩn trong điều trị các bệnh do vi khuẩn kỵ khí gây ra. Vi khuẩn kỵ khí không thể sống và sinh sôi trong oxy, vì vậy chúng bị ức chế nghiêm trọng bởi chất diệp lục tạo ra oxy. Chlorophyll không thực sự giết được vi sinh vật nhưng sẽ làm chúng mất khả năng sinh sôi và phát triển bằng việc tạo ra môi trường sống không thích hợp. Bằng việc hạn chế vi khuẩn, Chlorophyll có tác dụng khử trùng và khử mùi. Các cuộc kiểm tra khoa học chỉ ra rằng Chlorophyll có khả năng kích thích sự phát triển của các tế bào cơ mới, làm sạch các chất thải được và giúp vết thương lành nhanh.

5.   Cải thiện sức khoẻ răng miệng
Do hoạt động làm se bề mặt, Chlorophyll có ích trong việc điều trị các nhiễm trùng nhỏ ở miệng. Sử dụng Chlorophyll hàng ngày sẽ giảm được bệnh viêm họng có đờm Vicent’s Angina, một loại nhiễm trùng đau trong miệng, amidan và họng.

Thêm vào đó, Chlorophyll giúp loại trừ những vi khuẩn phá hoại có từ nước bọt và các cơ miệng, đồng thời là chất chống mảng bám rất hữu hiệu.
6.   Tăng cường sự phát triển của vi khuẩn ưa acid
Chlorophyll là một thành tố quan trọng trong việc làm sạch đường ruột vì nó giúp kích thích vi khuẩn ưa axit, loại vi khuẩn có lợi trong ruột. Vi khuẩn ưa axit là loại vi khuẩn trong tự nhiên và cần oxy để sinh sôi và phát triển. Vì chất diệp lục là chất tạo oxy nên sự có mặt của nó trong đại tràng sẽ làm cho đường ruột khỏe mạnh bằng việc thúc đẩy sự phát triển của vi khuẩn axit, vì vậy tạo ra hệ tiêu hoá khoẻ mạnh.

7.   Khử mùi
Chlorophyll có tác dụng như chất khử mùi bề mặt của miệng. Các vấn đề như hơi thở hôi do vấn đề đường ruột, hay vỡ nhiều mụn từ miệng, chlorophyll sẽ giúp loại bỏ các mùi khó chịu từ những vấn đề này.

TÓM TẮT LỢI ÍCH CỦA SẢN PHẨM

-    Cải thiện tình trạng thiếu máu, tăng số tế bào hồng cầu
-    Giúp cơ thể loại thải các chất độc hại
-    Tăng cường chức năng tiêu hóa, chống táo bón
-    Giúp thải độc cho gan, cải thiện các vấn đề về gan
-    Giảm viêm họng, giúp làm sạch phế quản
-    Giúp nhanh chóng lành vết thương
-    Chống lại các độc tố (chống say rượu)
-    Cải thiện tình trạng đái tháo đường
-    Làm dịu thấp khớp
-    Khử mùi
-    Tăng cường chức năng thận và bàng quang
-    Chống say tàu xe rất hiệu quả
-    Chống các bệnh về tuyến giáp

CÁCH DÙNG ĐỐI VỚI MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP:

Đây chỉ là thông tin một số bạn sử dụng cho kết quả tốt, chúng tôi thống kê lại để tham khảo, những liều lượng được đưa dưới đây không phải là chỉ định của bác sĩ và nhà sản xuất, bạn đọc có thể thay đổi liều dùng giảm hoặc tăng cho phù hợp với từng thể trạng và cơ địa:
 
1. Chống viêm nhiễm môi, vết loét
Liều dùng: Súc miệng bằng dung dịch diệp lục tinh khiết và bôi dung dịch lên vùng sưng hay loét.

2. Viêm có hơi trong đường tiêu hoá
Liều dùng: Uống 100cc dung dịch diệp lục cô đặc 3 lần 1 ngày trong 3 ngày liên tiếp.

3. Ngộ độc thức ăn
Ăn kiêng 1-3 ngày, ăn cháo trắng và uống nhiều nước.
Liều dùng: Uống 150 c.c dung dịch diệp lục cô đặc 2 giờ 1lần cho tới khi giảm.

4. Giun trong hệ tiêu hoá
Ăn kiêng với cháo trắng và uống nhiều nước từ 1-3 ngày
Liều dùng: Uống 100 c.c dung dịch diệp lục cô đặc 2 giờ 1lần cho tới khi phân sạch giun và trứng giun.

5. Vấn đề về tiêu hoá
Liều dùng: Uống 50 cc dung dịch diệp lục sau mỗi bữa ăn.

6. Sa dạ dày
Ăn kiêng với cháo trắng và uống nhiều nước từ 1-3 ngày.
Liều dùng : Uống 150cc dung dịch diệp lục cô đặc 4 lần 1 ngày.

7. Bệnh dạ dày
Liều dùng : Uống 150cc dung dịch diệp lục cô đặc 3 lần 1 ngày.

8. Ung thư và loét dạ dày
Liều dùng: Trước và sau phẫu thuật: uống 300cc dung dịch diệp lục 3 giờ 1 lần tới khi thuyên giảm

9. Sa, nghẽn dạ dày và các túi ruột:
Liều dùng: Uống 100cc dung dịch diệp lục cô đặc 3 lần 1 ngày cho tới khi giảm.

10. Viêm đại tràng
Ăn kiêng với cháo trắng và uống nhiều nước từ 1-3 ngày.
Liều dùng : Uống 150cc dung dịch diệp lục cô đặc 2 giờ 1 lần tới khi thuyên giảm.

11. Táo bón
Liều dùng : Uống 100cc dung dịch diệp lục cô đặc 3 lần 1 ngày.

12. Tiêu chảy mãn tính
Liều dùng: Uống 150cc dung dịch diệp lục cô đặc 2 giờ một lần.

13. Tiêu chảy cấp tính: kiêng các thức ăn có chất xơ
Liều dùng : Uống 150cc dung dịch diệp lục cô đặc 2 giờ một lần tới khi thuyên giảm.

14. Viêm trĩ ngoại
Liều dùng : Uống 150cc dung dịch diệp lục cô đặc 3 lần 1 ngày tới khi thuyên giảm. Dung dịch diệp lục có thể bôi lên vùng bị trĩ

15. Trĩ – Sau phẫu thuật:: cần kiêng rượu, thuốc lá, đường
Liều dùng: để hồi phục nhanh uống 100cc dung dịch diệp lục 3 lần 1 ngày.

16. Nhiễm trùng đường tiêu hoá: Phù (tình trạng trữ nước và sưng nề trong đường tiêu hoá)
Liều dùng: Uống 300 cc 3 giờ 1 lần cho tới khi thuyên giảm.

17. Các bệnh do vi khuẩn kỵ khí
Ăn kiêng với cháo trắng và nước từ 1-3 ngày, tập thể dục đánh tay lên xuống.
Liều dùng: 150cc dùng 4 lần 1 ngày.

18. Thiếu máu do thiếu sắt và những nguyên tố cần thiết
Liều dùng: Uống 100 cc dung dịch diệp lục với 2 thìa nhỏ mật ong, uống 3 lần 1 ngày.

19. Phân khô và rắn
Ăn nhiều rau xanh và hoa quả chín
Liều dùng: uống 100cc dung dịch diệp lục 3 lần 1 ngày.

20. Khối u có mủ trong trực tràng
Dùng cháo và uống nước từ 1-3 ngày
Liều dùng: Uống 150cc 4 lần 1 ngày. Dung dịch diệp lục có thể bôi lên khối u 3 lần 1 ngày

21. Cho bệnh nhân ốm và liệt giường
Liều dùng: uống 100cc dung dịch diệp lục 3 lần 1 ngày. Sau khi uống dung dịch, xoa bóp cơ thể 2 lần 1 ngày sáng và tối.

22. Viêm gan
Tránh ăn thịt, thực phẩm đóng hộp, thức ăn nhiều gia vị, đường, rau củ có thuốc trừ sâu, phân bón, cà phê, tà, rượu và thuốc lá
Liều dùng: Uống 150cc 4 lần 1 ngày tới khi thuyên giảm.

23. Bảo vệ gan
Liều dùng: Uống 100cc mỗi ngày

24. Xơ gan (tình trạng gan bị co lại và cứng)
Ăn nhiều khoai lang, chất đạm từ thịt gà, uống sữa bò, sữa dê tươi, ăn rau xanh.
Liều dùng: Uống 150cc 4 lần 1 ngày.

25. Sỏi mật
Ăn nhiều rau xanh, uống nhiều nước tinh khiết, tập đẩy tay 2 lần 1 ngày
Liều dùng: Uống 60 cc dung dịch diệp lục 8 lần 1 ngày.

26. Sỏi thận, sỏi tiết niệu và sỏi bàng quang, tắc nghẽn đường tiết niệu, đường bàng quang
Uống nhiều nước và dùng cháo từ 1-3 ngày với nhiều rau xanh.
Liều dùng: Uống 100cc dung dịch diệp lục 4 lần 1 ngày.

27. Chảy máu không ngừng
Liều dùng: Uống 150cc dung dịch diệp lục 2 giờ 1 lần cho tới khi cầm.
Ngoài ra bôi dung dịch vào chỗ chảy máu

28. Nhổ răng
Liều dùng: Uống 100cc dung dịch diệp lục 2 giờ 1 lần tới khi thuyên giảm.
Bôi dung dịch bằng bông vào chỗ nhổ răng

29. Chảy máu não và chảy máu mắt
Liều dùng: Uống 100cc dung dịch diệp lục 4 lần 1 ngày.

30. Bệnh tim mạch và phù nề toàn cơ thể
Liều dùng: Uống 350-540 cc trong 2-3 ngày( ngày 1 lần) tới khi thuyên giảm. Nếu không thuyên giảm thì tăng liều dến 800 cc mỗi ngày.

31. Bệnh tim dạng thấp (Sốt thấp tim)
Ngoài việc kiêng ăn các thức ăn nói trên cần nghỉ ngơi
Liều dùng: Uống 100cc dung dịch diệp lục 2 giờ 1 lần tới khi thuyên giảm.

32. Hệ thống miễn dịch
Bắt buộc hít thở sâu. Ngoài việc ăn kiêng cần tập thể dục
Liều dùng: Uống 50cc dung dịch diệp lục 3 lần 1 ngày.

33. Hạ huyết áp
Liều dùng: Uống 100cc dung dịch diệp lục 4 lần 1 ngày trong 3 ngày.

34.Tắc nghẽn mạch máu não (thiếu tuần hoàn não)
Kiêng đường, thuốc lá và rượu.
Liều dùng: Uống 100cc dung dịch diệp lục 4 lần 1 ngày trong 3 ngày hoặc dài hơn nếu cần

35. Cao huyết áp
Nên ăn nhiều rau xanh, hạt các loại, khoai lang, kê. Ăn ít thịt và ăn ít bữa.
Liều dùng: Uống 360 -720cc dung dịch diệp lục hàng ngày

36. Đái tháo đường
Thay đổi thói quen ăn uống. Ăn lúa mạch đen, khoai lang, hạt, rau xanh.
Liều dùng: Uống 100cc dung dịch diệp lục 4 lần 1 ngày.

37. Đái tháo đường (phụ thuộc Insulin)
Liều dùng: Uống 150cc dung dịch diệp lục 4 lần 1 ngày.

38. Đái tháo đường mãn tính
Ăn kiêng trong 3 ngày. Đến ngày thứ 4 thì ăn cháo, nước, khoai lang, nhiều rau xanh và chúng tôi lưu ý tiếp tục ăn kiêng 1 lần 1 tuần.
Liều dùng: Uống 360-540cc dung dịch diệp lục hàng ngày.

39.Viêm thận
Tất cả các thức ăn phải nhạt và nóng. Ăn nhiều rau xanh ngoài việc kiêng các thức ăn nói trên. Nghỉ ngơi nhiều theo yêu cầu
Liều dùng: Uống 150cc dung dịch diệp lục 2 giờ 1 lần đến khi thuyên giảm.

Hướng dẫn sử dụng:

Người lớn: Dùng 1 muỗng café (5ml) pha vào 1 ly nước 240ml. Tối thiểu 2 lần/ngày

Trẻ em dưới 12 tuổi: 2.5ml pha với nửa ly. Tối thiểu 2 lần/ngày

Những SAI LẦM LỚN về Thực phẩm chức năng

Sai lầm lớn khi công kích thực phẩm chức năng...
Thực tế đã cho thấy rất  nhiều loại thuốc có thể được thay thế bằng vitamin, dược thảo, axit amin, sản phẩm trợ sinh, thức ăn sạch và giàu chất dinh dưỡng, cả thực phẩm chức năng cũng như biện pháp không dùng thuốc.
Tương tự với việc đã xảy ra ở Mỹ đầu những năm 1990, ở nước ta trong thời gian vừa qua đã rộ lên một làn sóng gây nghi ngờ và kết tội bừa bãi bất kể sản phẩm phòng và chữa bệnh nào có nguồn gốc thiên nhiên. Đây có phải là những việc làm chỉ vì mục đích bảo vệ người tiêu dùng và sức khỏe của những người dân bình thường không? Chúng ta cần có một cách nhìn khách quan, tỉnh táo để không lún sâu vào cạm bẫy của những kẻ coi bệnh tật như một mảnh đất màu mỡ để kiếm lời.

 Ngay từ năm 1902, Thomas Edison, một  nhà sáng chế và phát minh vĩ đại của nhân loại đã nói lên mong ước và cũng là định hướng rất đúng đắn cho y học: “Bác sỹ của tương lai là những người không chỉ cho toa thuốc mà còn cần chú trọng đến cơ thể của người bệnh, đến chế độ dinh dưỡng của họ để tìm ra nguyên nhân bệnh tật và cách phòng ngừa chúng” (The Doctor of the future will give no medicine, but will instead interest his patients in the care of the human frame, indiet and in the cause and prevention of disease).

Điều đáng tiếc là với đại bộ phận các bác sỹ hiện nay, họ chỉ biết đến thuốc và thuốc. Càng chỉ định nhiều thuốc mới, thuốc đắt tiền, uy tín và thu nhập của họ càng cao.

Nhiều bệnh nhân bị các bệnh mạn tính như cao huyết áp, tiểu đường… được chỉ định điều trị bằng 10 loại thuốc hóa dược hoặc hơn thế nữa. Họ bị các phản ứng phụ gây ho, viêm đường hô hấp trên, đau nhức cơ bắp, giảm trí nhớ và cả suy thận. 


Khi người bệnh hỏi bác sỹ của họ có cách nào thoát khỏi những đau đớn, khổ ải về bệnh tật và thuốc men... câu trả lời thường là không. Với họ chỉ có con đường duy nhất là dùng thêm thuốc để chữa trị các triệu chứng do thuốc gây ra và đi chạy thận nhân tạo. 


Các bác sỹ ít khi nói tới khả năng hỗ trợ điều trị rất hiệu quả bằng cách thay đổi chế độ ăn uống, cách luyện tập và sinh hoạt, các phương pháp dưỡng sinh, thiền, thư giãn... cũng như dùng nhiều chất có nguồn gốc thiên nhiên như: nhiều loại thảo dược, vitamin như D, K, dầu cá và các loại thức ăn có nhiều acid béo omega 3, chất khoáng ma-nhê và nếu xa hơn nữa là các thực phẩm chức năng như: Alpha lipoic acid, L-carnitine, Taurine, các sản phẩm trợ sinh (probiotic)…
Những chất này đã được nghiên cứu và cho thấy là có tác dụng phòng và chữa nhiều bệnh mạn tính và không có tác dụng phụ nguy hiểm. Các sản phẩm này chỉ có một “tội” là: không thể bảo vệ được bản quyền và không thể mang lại lợi nhuận kéo dài trong hơn 20 năm cho hãng dược phẩm muốn bào chế, thử nghiệm và đưa chúng vào thị trường như một sản phẩm có tác dụng phòng và chữa bệnh.

Một điều chúng ta cần nhớ là ở giai đoạn cuối những năm 30 thế kỷ trước, có tới 80% các dược phẩm được bào chế và ứng dụng có nguồn gốc thiên nhiên xuất phát từ các kinh nghiệm y học dân gian và ngay hiện tại có tới 25% các dược phẩm đang lưu hành được chiết xuất từ thảo dược.

Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, ngày nay các thảo dược vẫn được sử dụng như những phương tiện phòng và chữa bệnh chính cho hơn 80% nhân loại. Vì các lý do kinh tế, các hãng dược không muốn phát triển và sử dụng thuốc thiên nhiên dưới dạng nguyên sinh.

Việc tách ra một hợp chất có tác dụng vào một cơ chế trong bệnh lý cùng việc biến đổi các phân tử tự nhiên bằng phương pháp công nghệ hóa, công nghệ gien để có thể sở hữu bản quyền bởi các hãng dược phẩm trong rất nhiều trường hợp đã làm giảm hiệu quả cho một dược phẩm có nguồn gốc thiên nhiên.

Tại sao cần kết hợp các sản phẩm có nguồn gốc thiên nhiên trong phòng và điều trị các bệnh cấp và mạn tính?
Nhiều bệnh cấp tính như cảm, cúm, viêm nhiễm do vi trùng, siêu vi trùng, nấm bệnh... xuất hiện khi chúng ta không được khỏe, do hệ miễn dịch của chúng ta suy yếu.

Các bệnh mạn tính phổ biến và gây tử vong nhiều nhất cho con người như bệnh tim mạch, ung thư, tiểu đường, tắc nghẽn phổi, hen suyễn, béo phì, trầm cảm, các hội chứng chuyển hóa và rối loạn hệ tiêu hóa, bệnh viêm khớp, dị ứng, u nang, u xơ... phần nhiều có nguồn gốc từ chế độ dinh dưỡng lệch lạc, môi trường ô nhiễm và cuộc sống tinh thần căng thẳng…

Các thuốc hóa dược đại bộ phận dùng để làm giảm triệu chứng, làm tăng chỉ số này, giảm chỉ số kia trong cơ thể người bệnh, nhưng rất ít khi chúng động tới nguyên nhân của bệnh tật và vì thế hầu như không có khả năng chữa khỏi bệnh.
Các thuốc hóa dược đều có những hậu quả phụ và nhiều khi các phản ứng này được nhận thức và điều trị bằng một thuốc khác như một bệnh lý mới.

Thực tế đã cho thấy nhiều thuốc men có thể được thay thế bằng vitamin, dược thảo, axit amin, sản phẩm trợ sinh, thức ăn sạch và giàu chất dinh dưỡng, cả thực phẩm chức năng cũng như biện pháp không dùng thuốc.

Việc người ta khẳng định chỉ có thuốc do các hãng dược bào chế và được bác sỹ kê đơn mới có tác dụng phòng và chữa bệnh chẳng qua là việc làm theo định kiến và sự lệ thuộc kinh tế vào công nghệ y dược hiện đại.

Vì sao thực phẩm chức năng và các phương pháp điều trị không dùng thuốc men ít được nghiên cứu, được phổ biến để ứng dụng rộng rãi?

Con người, với trí tuệ, kinh nghiệm và khả năng quan sát, phân tích của họ, đã tìm ra và ứng dụng rất nhiều sản phẩm có nguồn gốc thiên nhiên để nâng cao sức khỏe, chất lượng cuộc sống, phòng và chữa bệnh. Bản thân con người, cùng những thứ cần thiết nhất để chúng ta sống và tồn tại, phát triển, làm nên những việc phi thường, đều do thiên nhiên tạo ra.

Khoa học chỉ góp phần thúc đẩy sự phát triển và nâng cao đời sống của chúng ta dựa vào những quy luật tự nhiên và những gì có trong thiên nhiên. Bởi vậy, đừng nên lấy khoa học làm con "ngáo ộp" và những tôn chỉ của tổ chức này, đại học kia... để làm thước đo và luật lệ cho mọi vấn đề, nhất là khi vấn đề đó liên quan tới sức khỏe và bệnh tật. 
Mặc dù có những tiến bộ nhất định, nhưng những hiểu biết về cơ thể con người, bệnh tật cũng như cách phòng và điều trị của y học ngày nay còn rất hạn chế. Hiểu biết của chúng ta về khả năng phòng và chữa bệnh của các chất có nguồn gốc thiên nhiên cũng như sức mạnh tiềm tàng của cơ thể hiện nay chỉ là một con số giới hạn của sự vô hạn.
Nhưng cách nói như "không thể làm được" cái gì "vì khoa học chưa chứng minh được", là sự vô trách nhiệm phổ biến của những người lầm tưởng mình đang đứng ở đỉnh cao của khoa học.

Một điều đáng tiếc là đã có rất nhiều nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu dịch tễ học và lâm sàng cho thấy khả năng phòng và chữa bệnh ưu việt của nhiều sản phẩm thiên nhiên, thực phẩm chức năng và cả phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc, đã bị vùi dập vào dĩ vãng.

Các tác giả nghiên cứu rất ít khi công bố được công trình của họ trên các tạp chí y khoa lớn vì đại bộ phận thẩm định viên của các tạp chí này thiên về khuynh hướng y dược hiện đại.

Các nguồn tài trợ, kinh phí để tiếp tục nghiên cứu và ứng dụng các sản phẩm hoặc phương pháp này cũng rất hạn chế để có thể cạnh tranh được với số tiền lên tới hàng tỉ đô-la mà các hãng dược phẩm đa quốc gia có thể bỏ ra để làm thuốc và quảng bá chúng. Việt Nam có đủ kinh nghiệm và tiềm năng để trở thành cường quốc về y học thiên nhiên.
Với đường lối đúng đắn, sự học hỏi thường xuyên và vận dụng sáng tạo, y học dân tộc và thiên nhiên Việt Nam đã đặt được nền móng ở hầu hết các bệnh viện, trạm xá, các đại học y… với những bài thuốc và phương pháp chữa bệnh rất độc đáo và hiệu quả.

Một ví dụ có thể đơn cử ở đây là sự phát hiện và ứng dụng Artemisinin và các dẫn xuất để điều trị bệnh sốt rét. Dược phẩm này đã được chiết xuất từ cây thanh hao hoa vàng bởi các nhà khoa học Trung Quốc, Mỹ và đã được ứng dụng để điều trị cũng như cứu mạng hàng triệu người bệnh ở châu Phi và châu Á.

Artemisinin đã được phát hiện nhờ những tài liệu cổ điển có từ hàng nghìn năm trước và hầu như không làm đau một súc vật thực nghiệm nào cũng như không cần chi phí tốn kém cho các thử nghiệm lâm sàng.

Mặc dù kết quả điều trị cũng như độ an toàn của Artemisinin theo kinh nghiệm của các bác sỹ ở Việt Nam và châu Phi là vượt trội so với các thuốc cổ điển, Cơ quan quản lý về dược phẩm của Hoa Kỳ (FDA) đã áp đặt và kìm hãm việc sử dụng Artemisinin trong một thời gian dài chỉ với lý do: Nó chưa được kiểm nghiệm qua thử nghiệm lâm sàng.
Đến khi các nước châu Phi đồng loạt phản đối và không tuân theo sự phán quyết của FDA và Chính phủ Mỹ, thì Tổ chức Y tế Thế giới đã phải chấp nhận đưa Artemisinin vào các chương trình phòng chống và điều trị sốt rét trên toàn cầu.

Những nhà khoa học tham gia vào phát hiện và tách lọc được Artemisinin đáng nhẽ phải xứng đáng được 2 giải Nobel về y học, bởi vì họ đã làm một việc mang lại lợi ích cho những bệnh nhân bị sốt rét (đại bộ phận là người nghèo) to lớn hơn nhiều so với các công trình khoa học và phát minh đã được giải Nobel trong những năm gần đây.

Các sản phẩm thiên nhiên và thực phẩm chức năng có đáng sợ không?

Nếu được bào chế đúng tiêu chuẩn và dùng đúng, hầu hết các sản phẩm này có tính an toàn vượt trội so với các dược phẩm.

Chúng ta phải thấy vui mừng vì nước nhà đã có những hãng bào chế và phân phối có uy tín, trách nhiệm với sản phẩm thuốc thiên nhiên, cũng như thực phẩm chức năng có chất lượng và giá trị phòng, chữa bệnh tốt.

Mặc dù những nguy cơ, tác hại của thuốc thiên nhiên cũng như thực phẩm chức năng luôn được đề cập và thổi phồng, nhưng những con số sau đây nói lên tất cả:

- Năm 2005: Không có một trường hợp tử vong nào do vitamin và thực phẩm chức năng được báo cáo ở Mỹ, mặc dù có tới hơn 70% người Mỹ dùng các sản phẩm này (theo Trung tâm quản lý về ngộ độc của Mỹ, trang 588 KBPDF).


- Con số tử vong do dùng thuốc theo đúng chỉ định gây ra trong các bệnh viện tại Mỹ năm 2005 là khoảng 106 nghìn trường hợp (theo Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Mỹ).

Trong lĩnh vực nào của đời sống cũng có kẻ xấu người tốt. Chúng ta hãy giúp người dân hiểu biết và loại bỏ những sản phẩm tồi, nhưng đồng thời cần tạo điều kiện giúp đỡ, phát triển những phát hiện và ứng dụng của thực phẩm chức năng, thuốc thiên nhiên mới và cổ điển vì lợi ích của người bệnh và cả nền kinh tế của đất nước.

Nếu làm được việc này, Y tế Việt Nam có thể đón trước chiều hướng không thể thay đổi của nhân loại trong một tương lai không xa, đó là quay lại với các sản phẩm thiên nhiên để phòng và chữa bệnh.

Nếu biết lắng nghe, học hỏi, tiếp thu kiến thức dân gian và luôn tìm kiếm, chúng ta có thể sẽ tìm được cách khống chế và hạn chế những căn bệnh hiểm nghèo nhất của thời đại. Như Paracelsus, một triết gia vĩ đại của nhân loại, đã nói: "Thiên nhiên không tạo ra bệnh gì mà không có thuốc để trị nó"
TS.BS. Hoàng Xuân Ba


Ý kiến bạn đọc
Cảm ơn bài viết của TS.BS. Hoàng Xuân Ba, ông đã đưa ra một nhận định đúng đắn về thực phẩm chức năng, giúp người tiêu dùng hiểu được lợi và hại của việc lạm dụng dược phẩm. Về thực phẩm chức năng, chính bản thân tôi đã nhờ nó mà chữa khỏi được bệnh rụng tóc và bệnh đau lưng.

Hàng chục gia đình hàng xóm và người quen của tôi cũng đã dùng như tôi, và kết quả thật không ngờ. Nhiều người bị bệnh như hen, xuyễn, tiểu đường ... đã được cải thiện một cách rõ rệt, có người khỏi hẳn bệnh. Mọi người chỉ có một điều băn khoăn là: giá thành cao quá. Có người bạn nói với tôi: nếu có tiền tôi tiếp tục uống thì chắc là khỏi hết bệnh!
Tuy nhiên, lâu nay cũng có một số loại thực phẩm chức năng bị người tiêu dùng lên án hoặc bài xích vì hai lẽ: Một là chất lượng, hai là giá cả. Theo ý tôi, Bộ y tế nên quan tâm đến lĩnh vực "thực phẩm chức năng" này. Quản lý về chất lượng, giá cả sao cho người tiêu dùng có lợi nhất. Dần dần loại bỏ thói quen lạm dụng dược phẩm có nguồn gốc phi thiên nhiên.

Khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm đi theo hướng này thì sẽ đem lại nhiều lợi ích cho xã hội: - Thứ nhất, không phải nhập khẩu những loại thuốc đắt tiền (trừ biệt dược), tiết kiệm ngoại tệ. - Thứ hai, cải thiện tình hình sức khoẻ của người dân trong điều kiện thu nhập thấp. - Thứ ba, tạo ra một ngành "công nghiệp dược có nguồn gốc thiên nhiên" mà Việt Nam chúng ta có rất nhiều lợi thế. - Thứ tư, giảm tình trạng "quá tải" của các bệnh viện.
Lưu Nguyễn

FUCOIDAN - Quà quý từ Thiên nhiên cho bệnh nhân Ung thư - Phần 2 (3 khả năng chính của Fucoidan đối với ung thư)

Ba khả năng chính của rong biển “Fucoidan”
Làm cho các tế bào ung thư tự chết.
CHẤT NHỜN NÀY KHIẾN CÁC TẾ BÀO UNG THƯ YẾU DẦN VÀ TỰ CO LẠI. Hãy cùng xem xét “ba khả năng” này của “Fucoidan”.
Bí ẩn về khả năng “chống ung thư” có một không hai của “fucoidan”.
Fucoidan đã cho thấy rất nhiều các tác dụng dược lý. Điều này, đã khuyến khích các nhà nghiên cứu tiến hành thêm những cuộc thí nghiệm và nghiên cứu về fucoidan với hy vọng tìm thêm được những khả năng mới của fucoidan giúp cho việc điều trị ung thư. Những nghiên cứu và các cuộc thí nghiệm trên động vật, v.v.. cho thấy rằng fucoidan thực sự có ảnh hưởng đến điều trị ung thư.
Không giống như các chất bổ sung sức khoẻ truyền thống khác thường đưa ra các tác dụng chống ung thư thì hiệu quả của fucoidan gồm ba chức năng. Đó là:
1 Tạo ra sự tự chết theo chu trình của tế bào (Apoptosis) trong các tế bào ung thư
2 Nâng cao khả năng miễn dịch
3 Ức chế sự hình thành và phát triển các mạch máu mới (Angiogenesis)
Người ta cho rằng ba chức năng này khiến các tế bào ung thư tự nhiên yếu đi và co lại, thậm chí chết đi. Vì thế, hãy cùng trao đổi đôi chút về “ba khả năng chống ung thư” có một không hai này của fucoidan.
Khả năng 1 Tác dụng tạo ra sự tự chết theo chu trình của tế bào (Apoptosis) một cách đáng ngạc nhiên.
Các tế bào thường chết theo hai cách: Một là “apoptosis” (tự chết theo chu trình) và hai là “necrosis” (hoại tử).

Có thể bạn sẽ ngạc nhiên khi biết rằng “tất cả các tế bào đều được lập trình để chết đi”. Tuy nhiên, cơ chế “tự tiêu diệt của các tế bào” là một hiện tượng rất quan trọng trong hoạt động tự nhiên. Khi bào thai lớn lên trong tử cung của người mẹ, các màng được cắt và tách ra để tạo ra các ngón tay và chân riêng rẽ. Lúc này, các tế bào tạo thành các màng giữa các ngón chân /ngón tay tự nhiên biến mất do quá trình apoptosis. Khi một con nòng nọc lớn lên và trở thành một con cóc, cái đuôi của nó tự nhiên mất đi. Hiện tượng này có được là nhờ sự tự chết theo chu trình của tế bào (apoptosis).
Ngoài những biến đổi vô hình này, còn có rất nhiều những biến đổi vô hình khác xuất hiện trong cơ thể chúng ta mỗi ngày do sự tự chết theo chu trình của các tế bào. Trong nhiều trường hợp, sự tự chết theo chu trình của tế bào (apoptosis) liên quan đến quy trình đào thải khỏi cơ thể chúng ta những tế bào già không còn cần thiết nữa.Các biểu bì mà sản sinh ra máu cũng trải qua quá trình apoptosis. Mỗi ngày, cơ thể chúng ta sản sinh ra một lượng tế bào máu nhất định, nhưng các nguyên hồng cầu, bạch cầu trung tính thừa và các tế bào máu trắng khác được đào thải khỏi cơ thể qua quy trình lựa chọn tự nhiên bằng quá trình apoptosis.
Apoptosis tạo ra các tác động khiến các tế bào ung thư tự nhiên chết đi.
Các tế bào trở thành ung thư bị biến dạng so với các tế bào thường. Nếu cơ chế apoptosis hoạt động bình thường thì những tế bào này sẽ tự chết đi giống như các tế bào thường. Tuy nhiên, các tế bào ung thư không thể tự chết đi bởi sự tự chết theo chu trình của tế bào (apoptosis) của nó không thể hoạt động được nữa. Các tế bào bình thường có một vòng đời nhất định và sẽ không thể tiếp tục phân chia mãi. Ngược lại, các tế bào ung thư sẽ tiếp tục phân chia và phát triển mãi mãi.Các tế bào ung thư không hề có vòng đời và người ta cho rằng chúng gần như sống mãi. Các tế bào “ung thư biểu mô cổ tử cung” do phòng thí nghiệm của Mỹ lấy được năm 1951 đã được nuôi tại các phòng thí nghiệm trên toàn Thế giới và đến nay chúng vẫn sống và phát triển. Ngày nay, các tế bào này được sử dụng trong nhiều nghiên cứu. Khả năng tồn tại mạnh mẽ của chúng gây nhiều khó khăn cho việc điều trị ung thư.
Các tế bào ung thư cũng “di chuyển” khắp mọi nơi trên cơ thể thậm chí cả những vị trí rất xa, thông qua những khối u bạch huyết và các mạch máu được nối với điểm đầu tiên của ung thư. Sau khi đến một vị trí mới, các tế bào ung thư mọc rễ và bắt đầu tạo ra những thương tổn mới. Đây là nguồn gốc “sự di căn” của ung thư. Nếu ung thư di căn đến nhiều vị trí hoặc tới những vị trí mà không thể phẫu thuật để loại bỏ những thương tổn của ung thư thì việc điều trị sẽ cực kỳ khó khăn.
Giả sử rằng phẫu thuật đã loại bỏ tất cả các thương tổn của ung thư. Thậm chí nếu chỉ còn một tế bào ung thư thì tế bào này sẽ lại tái tạo và di căn, cuối cùng lại tàn phá cơ thể chúng ta. Đó là những gì chúng ta gọi là “sự tái phát” của ung thư. Ung thư rất khác so với các bệnh khác ở chỗ nó có thể di căn và tái phát và triệu chứng này có thể được lặp lại.
Một trong rất nhiều nguyên nhân tại sao fucoidan lại được chú ý nhiều đến vậy là bởi khả năng khiến“duy nhất” các tế bào ung thư tự chết theo chu trình. Các tác dụng phụ của thuốc và các thành phần tạo ra sự tự chết theo chu trình đã gây ra nhiều lo lắng. Nhưng với fucoidan, người ta hoàn toàn không phải lo lắng gì bởi nó là một chất tự nhiên sống dưới biển. Bạn sẽ không bao giờ gặp phải những vấn đề về sức khoẻ do ăn quá nhiều mozuku: Cơ thể của chúng ta có thể tiêu hoá fucoidan một cách an toàn. Tại Hội nghị toàn quốc lần thứ 55 của Hiệp hội Ung thư Nhật Bản vào năm 1961, các khán giả đã chú ý đến một báo cáo trong đó các nhà nghiên cứu đã tìm ra rằng fucoidan không chỉ khiến các tế bào ung thư tự chết theo chu trình mà còn không hề để lại hậu quả gì cho các tế bào bình thường. Báo cáo này đã khiến các nhà nghiên cứu bắt đầu tiến hành nhiều cuộc thí nghiệm và nghiên cứu và những kết quả khả quan đã lần lượt được công bố. Phương pháp điều trị ung thư truyền thống  theo phương thuốc tây gồm “ba liệu pháp chính” được nghiên cứu để “giết các tế bào ung thư bằng các phương pháp nội khoa” như “mổ để loại bỏ các thương tổn của ung thư”, “sử dụng các thuốc chống ung thư để làm yếu và tiêu diệt các tế bào ung thư” và “dùng các tia bức xạ để tiêu diệt các tế bào ung thư trung tâm”.
Ba liệu pháp này không chỉ ảnh hưởng đến các tế bào ung thư mà còn gây tác hại cho các tế bào thường ở một mức độ nhất định. Chính vì thế các liệu pháp này đều gây ra các tác dụng phụ như rụng tóc, buồn nôn, nôn, mất cảm giác thèm ăn và mệt mỏi cũng như mất dần CLCS (chất lượng cuộc sống).
Ngược lại, “tác dụng tạo ra sự tự chết theo chu trình” của fucoidan chỉ khiến cho các tế bào ung thư “tự chết”. Giới y học đang chú ý nhiều đến Fucoidan bởi vì nó phối hợp với các phương pháp điều trị ung thư truyền thống mà không cần bất kỳ hạn chế nào.
Fucoidan kích hoạt các caspase (= một enzyme phân giải protein được tìm thấy trong các tế bào của một tế bào ung thư và do đó khiến tế bào ung thư này tự chết theo chu trình).
Cho dù fucoidan tiếp tục tác động rõ ràng tới Fas (= thụ thể màng tế bào ung thư) như thế nào để kích hoạt caspase vẫn chưa được tiết lộ một cách chi tiết và các nghiên cứu vẫn được tiến hành, thì các lý do nêu trên đã đưa ra những giải thích rõ ràng tại sao các tế bào ung thư tự chết đi. Những nghiên cứu gần đây đã cho thấy rằng Fucoidan đóng vai trò lớn trong cơ chế khiến các tế bào ung thư tự chết theo chu trình.

Hoạt động gây ra sự tự chết theo chu trình 
(Rau biển fucoidan cung cấp “nhân tố tạo ra sự tự chết theo chu trình của tế bào”, tác động vào những tế bào ung thư một cách trực tiếp . Khi rau biển fucoidan kích hoạt “tín hiệu tự huỷ diệt” trên các tế bào ung thư, các tế bào ung thư sẽ bắt đầu “tự hủy diệt” và sau đó tự nhiên biến mất)
Once a self-destruction switch is activated, a cancer cell will disappear naturally
(Mỗi lần sự chuyển đổi tiêu huỷ được kích hoạt, thì một tế bào sẽ tự nhiên biến mất) .
I am pressing the self-destruction button (Tôi đang nhấn vào nút tự huỷ)
Fucoidan trong mozuku cho thấy tác động tạo ra sự tự chết theo chu trình mạnh mẽ.
LÀM CHO CÁC TẾ BÀO UNG THƯ TỰ CHẾT THEO CHU TRÌNH….Vậy làm sao chúng ta có thể khẳng định rằng tác dụng này thực sự xảy ra? Để trả lời cho câu hỏi này, giáo sư Hiroshi Taguchi công tác tại khoa Tài nguyên sinh học (sinh vật học phân tử và tế bào) của trường Đại học Mie đã tiến hành một cuộc thí nghiệm. Trong thí nghiệm này, giáo sư đã lấy một bình dung dịch có chứa fucoidan hoà tan trong nước muối được trộn với một dung dịch cấy có chứa các tế bào ung thư của người. Đồng thời giáo sư cũng lấy một bình dung dịch nước muối không có fucoidan làm dung dịch mẫu và cũng đem trộn với các tế bào ung thư của người giống như vậy. Khi quan sát các mẫu, tế bào ung thư trong dung dịch có chứa fucoidan nhanh chóng bị mất hình dạng bên ngoài và hầu hết các tế bào ung thư đã chết và biến mất sau 24 giờ. Giáo sư Taguchi giải thích về kết quả này như sau: “Các tế bào ung thư bị mất hình dạng, yếu dần và bị tách thành các miếng nhỏ. Đây là mô hình tiêu biểu của tế bào chết dưới dạng tự chết theo chu trình”.
Tại sao các tế bào ung thư tự chết do apoptosis? Có hai cơ chế hoạt động tại đây. Một là fucoidan tiết ra một chất khiến bề mặt của một tế bào ung thư tự phá huỷ, làm cho tế bào ung thư này tự chết theo chu trình. Cơ chế còn lại là “perforin” có trong các tế bào NK và các tế bào T tạo ra những lỗ thủng trên màng của một tế bào ung thư và phá huỷ nhân tế bào, trong khi đó “granzyme” có trong các tế bào T cũng phá huỷ các gen trong một tế bào ung thư.
 
Khả năng 2 Nâng cao sự “miễn dịch” để tiêu diệt ung thư.
Cơ thể chúng ta có một cơ chế tự nhiên để loại trừ các chất lạ xâm nhập vào cơ thể, như các mầm bệnh và virut khiến chúng trở nên vô hại. Cơ chế này được gọi là “hệ miễn dịch”. Về một ý nghĩa nào đó, sự miễn dịch là một cơ chế mà phân biệt các chất bên trong với các chất bên ngoài và loại trừ các chất bên ngoài. Chúng ta biết rằng có những người dễ dàng bị nhiễm lạnh và có những người không. Vậy sự khác nhau giữa hai nhóm người này là gì? Khi một virut lạnh xâm nhập vào cơ thể chúng ta, cơ thể chúng ta có thể loại trừ virut bởi chúng ta có khả năng miễn dịch cao. Tuy nhiên, nếu chúng ta có một sức khoẻ yếu, khả năng miễn dịch của chúng ta kém, cơ thể chúng ta không thể loại trừ virut và kết quả là chúng ta sẽ chết. Đối với cơ thể chúng ta, các tế bào ung thư là các chất lạ.

“Những tế bào miễn dịch” như những Đại thực bào, tế bào tự diệt T và những tế bào diệt tự nhiên  NK được kích hoạt bởi fucoidan để cùng nhau làm việc tạo ra một cuộc tấn công vào các tế bào ung thư, đó chính là những chất lạ xâm nhập vào cơ thể của chúng ta.
Ngoài ra, để “ăn” các chất lạ, các Đại thực bào chịu ảnh hưởng bởi sự hình thành các tế bào T có sẵn trong các chất lạ bằng việc giải phóng các enzim và cytokines (interferons, interleukins và các chất có hoạt tính sinh học khác). Hoạt động này được gọi là “sự tạo ra kháng nguyên” (antigen presentation). Ngược lại, “các tế bào diệt tự nhiên” (NK) hoạt động mà không bị chi phối hay điều khiển bởi các tế bào khác. Chúng thực sự là những “kẻ hủy diệt”. Những “kẻ hủy diệt này” tấn công các tế bào lạ ngay khi chúng chúng phát hiện ra.Mặc dù sau khi tế bào trở thành ung thư, nó cần một thời gian lâu hơn nữa để một nhóm tế bào ung thư biến thành một khối u nhưng các tế bào NK có thể tiêu diệt các tế bào dị thường mà vừa mới bắt đầu chuyển thành ung thư.
SỰ SUY GIẢM MIỄN DỊCH CỦA CHÚNG TA TĂNG THEO TUỔI…
“Khả năng miễn dịch” là cơ chế bảo vệ tự nhiên của cơ thể chúng ta. Chừng nào các tế bào miễn dịch được nhắc đến ở trên hoạt động đúng thì chúng vẫn có thể bảo vệ chúng ta khỏi các căn bệnh thậm chí ngay cả khi có rất nhiều virut, vi khuẩn và mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể chúng ta hay khi các tế bào biến đổi và chuyển thành ung thư. Nếu tất cả mọi người đều  có “khả năng miễn dịch” thì tại sao một vài người trong chúng ta lại bị ung thư? Phải chăng “khả năng miễn dịch” không có tác dụng với ung thư?
Câu trả lời đơn giản là bởi vì sự miễn dịch của chúng ta giảm dần theo tuổi. Các chức năng của cơ thể con người sẽ đạt tới đỉnh cao nhất ở độ tuổi 20 và sau đó dần dần yếu đi. Đáng tiếc là các tế bào miễn dịch cũng có tuổi và do đó, khi chúng ta già đi, cơ thể của chúng ta bắt đầu mắc nhiều bệnh tật. Chắc hẳn tất cả các bạn đều nhìn thấy vài dấu hiệu của sự suy giảm miễn dịch.
Lão hoá không phải là nguyên nhân duy nhất gây giảm khả năng miễn dịch của chúng ta. Các tế bào miễn dịch có thể giảm về số lượng hoặc chức năng để loại trừ “khí oxy tích cực” (active oxigen) có hại mà có thể yếu dần vì những nguyên nhân khác. Các nhân tố chính gồm sự ô nhiễm thức ăn và môi trường do hàng loạt các chất hoá học và căng thẳng của xã hội hiện đại. Các nhân tố này tích tụ lại và gây ra sự suy giảm miễn dịch của con người ngày nay.
Fucoidan hoạt hoá các tế bào NK
Tiến sỹ Makoto Fujii của trường Đại học Kagoshima đang tiến hành các cuộc thí nghiệm trên động vật và những nghiên cứu khác về fucoidan. Ông tin rằng Fucoidan có thể được sử dụng rất hữu hiệu trong điều trị ung thư. Sau đây, chúng tôi sẽ giới thiệu một trong những nghiên cứu của ông. Trong thí nghiệm này, những con chuột được cấy các tế bào ung thư dưới da (tế bào u được gọi là “sarcoma 180”). Sau đó, những con chuột này được chia làm hai nhóm: Một nhóm được cho ăn các thức ăn có chứa fucoidan và nhóm còn lại ăn các thức ăn không có fucoidan. Hai nhóm này được theo dõi và kiểm tra những thay đổi sau 20 ngày.
● Với nhóm chuột được ăn thức ăn không có chứa fucoidan thì trọng lượng của khối u vào khoảng 1.06g.Tuy nhiên với nhóm chuột được ăn thức ăn có chứa fucoidan thì trọng lượng khối u về cơ bản đã xấp xỉ gần 0.24g (xem biểu đồ hình 7).
 
Các kết quả này có ý nghĩa gì?
Cơ thể chúng ta có khoảng 60 tỉ tế bào, trong đó các tế bào già chết đi và được thay thế bằng các tế bào mới. Người ta cho rằng cứ sau 200 ngày các tế bào trong cơ thể của chúng ta lại được thay mới. Tuy nhiên, không phải tất cả các tế bào được thay mới đều là tế bào khoẻ mạnh. Theo các nghiên cứu thì có khoảng 3000 tế bào dị thường được sinh ra trong cơ thể của chúng ta mỗi ngày. Mặc dù cơ thể của chúng ta có thể loại trừ các tế bào dị thường này khi chúng ta còn khoẻ, nhưng vì một lý do nào đó mà một vài tế bào dị thường này còn sót lại trong cơ thể chúng ta, chúng sẽ phát triển và trở thành “ung thư”.
Ngày nay, nhiều nhà nghiên cứu đã tiến hành hàng loạt thí nghiệm với fucoidan và nhiều cuộc thí nghiệm cho thấy các tế bào ung thư đã biến mất hoặc trở nên nhỏ hơn. Trong nhiều cuộc nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã kết luận rằng sự biến mất hoặc suy giảm các tế bào ung thư là do hiệu quả của fucoidan nhằm tăng khả năng miễn dịch trong các động vật được đem ra thí nghiệm và tấn công các tế bào ung thư trong cơ thể của chúng.
Những yếu tố quan trọng trong chiến lược điều trị ung thư
Các tế bào ung thư sẽ biến mất qua những hiệu ứng điều phối của 3 hành động
chống ung thư. Đây là tính năng chủ chốt, nói lên sự khác biệt giữa rau biển
fucoidan và tất cả các loại thực phẩm chức năng tuyên bố có tác dụng chống ung thư khác.
Apoptosis inducing action: Hoạt động tăng cường tự chết theo chu trình
Immunity activation action: Hoạt động kích hoạt miễn dịch
Angiogenesis suppression : Hoạt động ngăn chặn sự tạo mạch
Cơ chế ngăn chặn sự tạo mạch

Các tế bào ung thư gửi tín hiệu vào những mạch máu gần đó để chúng có thể đến gần nhau hơn. Quá trình này gọi là “tạo mạch”. Những mạch máu mới có tác dụng như những tuyến đường mà thông qua đó, các chất dinh dưỡng được vận chuyển đến các tế bào ung thư.
Khối u phát triển bởi nhận được các chất dinh dưỡng và oxy từ mao mạch đã thâm nhập vào khối u. Những mao mạch này cũng có thể cho phép các tế bào ung thư di căn đến các bộ phận khác của cơ thể. 

Việc “ngăn chặn tạo mạch” ngăn ngừa sự phát sinh của những mao mạch và giảm bớt sự cung cấp các chất dinh dưỡng và oxy tới những tế bào ung thư. Và kết quả những tế bào ung thư bị suy yếu đi.
Khả năng 3 Ngăn chặn sự hình thành các mạch máu mới, lấy đi các chất dinh dưỡng của các tế bào ung thư.
Như đã giải thích ở trên, trước tiên fucoidan khiến các tế bào ung thư tự giết chúng (bằng cách tạo ra sự tự chết theo chu trình (apoptosis)). Tiếp sau đó, fucoidan kích thích tới các mức độ cao nhất các đại thực bào (macrophages), các tế bào NK và các tế bào miễn dịch khác, những tế bào tạo thành hệ miễn dịch tự nhiên của chúng ta để giúp chúng tấn công các tế bào ung thư một cách có hiệu quả. Tuy nhiên, đây không phải là khả năng duy nhất của fucoidan. Fucoidan còn có vũ khí thứ ba nữa, đó là “hoạt động ngăn chặn sự hình thành mạch”.
Các tế bào ung thư bám rễ vào các mô trên khắp cơ thể chúng ta và bắt đầu tạo thành các mô. Khi các tổn thương ung thư phát triển đến một mức độ nhất định, các tế bào ung thư sẽ cần phải được cung cấp các chất dinh dưỡng và khí oxy. Để tách ra và phát triển, các tế bào ung thư sẽ tạo ra các mạch máu mới xung quanh chúng để lấy chất dinh dưỡng và khí oxy thông qua những mạch máu này. “Những mạch máu mới”này hoạt động giống như những cái rễ mà từ đó các tế bào ung thư gây ra di căn. Sự sinh sản các mạch máu mới kết nối với ung thư được gọi là “sự hình thành các mạch máu mới” (angiogenesis). Các nhà nghiên cứu đang tìm nhiều phương thuốc để ngăn chặn sự hình thành các mạch máu mới. Nếu chúng ta có thể ngăn chặn sự hình thành các mạch máu mới kết nối với ung thư, chúng ta có thể cắt đứt các rễ cung cấp cho các tế bào ung thư và cuối cùng tiêu diệt bệnh ung thư.Các nhà nghiên cứu đã cho thấy rằng fucoidan có “tác dụng ức chế sự hình thành các mạch máu mới” này.
Thí nghiệm trên “chức năng ngăn chặn sự tạo mạch”của fucoidan

Tại Đại hội Quốc tế và Miễn dịch học lần thứ 12 được tổ chức tại Canada vào tháng 7 năm 2004, dữ liệu về một nghiên cứu đã được đưa ra cho thấy hiêụ quả ức chế sự hình thành lumen liên kết với các tế bào máu từ cuống rốn (human imbilical vein endothelial - HUVEC) của fucoidan đã được kiểm tra. Trong thí nghiệm này, cả fucoidan mozuku và fucoidan mekabu đều cho thấy khả năng ức chế sự hình thành các lumen liên kết với HUVEC cao. Nói cách khác, fucoidan phá vỡ sự hình thành các mạch máu mới giúp chuyển chất dinh dưỡng và khí oxy cho các tế bào ung thư và giúp các tế bào ung thư tạo ra sự di căn. Các nghiên cứu cho thấy rằng ở những bệnh nhân không sử dụng fucoidan thì thời gian đầu các tế bào ung thư phát triển đến một mức độ nhất định, và khi tạo ra được các mạch máu mới xung quanh chúng thì tốc độ phát triển của chúng bắt đầu tăng nhanh.

Hãy cùng tóm tắt lại những gì chúng ta đã nghiên cứu sau đây:
 
1 Fucoidan khiến các tế bào ung thư tự chết theo chu trình (apoptosis)
2 Fucoidan nâng cao khả năng miễn dịch
3 Fucoidan ức chế sự hình thành và phát triển mạch máu mới (angiogenesis)
Các hiệu quả tổng hợp của “ba khả năng chống ung thư này” thực sự đáng ngạc nhiên. Đó là lý do tại sao các phương tiện thông tin đại chúng nói nhiều đến fucoidan và fucoidan không chỉ gây nhiều chú ý cho y học ở Nhật Bản mà còn cho cả y học trên toàn Thế giới.

FUCOIDAN - Quà quý từ Thiên nhiên cho bệnh nhân Ung Thư - Phần 1 (Fucoidan là gì?)

LỜI TỰA
Tôi rất mừng vì cuốn sách nhỏ này được xuất bản bằng tiếng Anh.
Thực ra, trước đây, tôi không tin vào bất kỳ thành phần bổ sung cho khẩu phần ăn nào.Tuy nhiên, Fucoidan đã khiến tôi thay đổi suy nghĩ của mình.
Tôi đã bắt đầu sử dụng Fucidan làm thuốc chữa bệnh ung thư ở Nhật Bản.Từ khi sử dụng Fucoidan, tôi lại nhìn thấy các bệnh nhân của tôi cười. Mục đích của phương pháp điều trị ung thư này không chỉ ngăn chặn hay loại trừ ung thư mà còn duy trì một cuộc sống tốt cho các bệnh nhân và gia đình người bệnh. Tôi luôn hài lòng khi nhìn thấy nụ cưới trở lại trên khuôn mặt của các bệnh nhân. Hơn thế nữa, tôi rất vui khi nghe được những phản hồi đáng mừng từ phía những bệnh nhân của tôi khi khối u của họ đã bị ức chế và đã giảm, đồng thời các tác dụng phụ của hoá trị liệu và phóng xạ trị liệu cũng giảm. Điều quan trọng là điều trị cho các bệnh nhân có hiệu quả, loại bỏ hoặc giảm được các tác dụng phụ.
Do đó, tôi rất vui mừng được giới thiệu Fucoidan - loại thực phẩm tuyệt vời này không chỉ cho người Nhật mà còn cho cả người Mỹ.
           Tiến sỹ Daisuke Tachikawa
           Tháng 3 năm 2007
           Bản quyền © năm 2007 thuộc về Daisuke Tachikawa.
Lời giới thiệu
OKINAWA- ĐẢO ĐẸP, LÂU ĐỜI NHẤT Ở NHẬT BẢN. Okinawa, đảo cực nam của Nhật Bản, nổi tiếng là “quần đảo đẹp, lâu đời nhất ở Nhật Bản”.Đây cũng là nơi có tỉ lệ tử vong do bệnh ung thư thấp nhất Nhật Bản. Một trong nhũng nguyên nhân giúp giảm tỉ lệ tử vong này là thói quen ăn uống đặc biệt của người dân Okinawa. Thành phần chủ yếu khi chế biến món ăn của người dân Okinawa là các loại rong biển như kombu (laminaria japonica), mozuku (nemacystus pinnaifida, gần rễ). Kombu thường có ở vùng biển phía bắc quanh đảo Hokkaido. Tuy nhiên, trong suốt giữa thời kỳ Edo (khoảng nữa đầu thế kỷ 18), người Nhật Bản đã xuất khẩu kombu sang Nhà Thanh (Trung Quốc bây giờ). Khi đó, Okinawa trở thành một cảng biển để vận chuyển kombu sang Nhà Thanh. Chính vì thế kombu trở thành thực phẩm phổ biến ở Okinawa và là một thành phần quan trọng trong món ăn truyền thống của người Okinawa.
Trong khi những người dân trên đảo Honsu (hòn đảo lớn nhất Nhật Bản) thường dùng kombu để nấu súp rau thì những người Okinawa lại thường ăn sống kombu. Khi ăn sống như vậy, tất cả các chất dinh dưỡng tự nhiên được đưa vào cơ thể và được hấp thụ toàn bộ.
Okinawa là khách hàng mua kombu lớn nhất Nhật Bản. Hơn thế nữa, người ta cho rằng lượng mozuku được tiêu thụ tại Okinawa nhiều gấp mười lần so số lượng được tiêu thụ tại các nơi khác.  Chắc hẳn mọi người đã nghe thấy đâu đó nói rằng tảo biển tốt cho cơ thể vì nó giàu vitamin cũng như iot, canxi, mangan, sắt, kẽm, kali, và các khoáng chất khác. Khi phát triển, rong biển hấp thụ nhiều khoáng chất tan trong nước biển vì thế, tự nhiên chúng giàu khoáng sản. Thực chất, rong biển tập trung tất cả những chất tốt có trong nước biển.
 Dựa trên thành phần sắc tố, rong biển được phân loại thành tảo nâu, tảo đỏ, tảo xanh lục, tảo xanh lá cây. Nhóm tảo nâu bao gồm kombu, wakame, hijiki (hijikia hình thoi) và mozuku, trong khi đó, tảo đỏ có tengusa (thạch trắng) và amanori (đá Pocfia). Tảo xanh lục có aonori (rong biển xanh) và aosa (rau diếp biển), và tảo xanh lá cây có kudamo (Lynbya confervoides) và higemo (Rivularia). Các cây lớn lên nhờ sự quang hợp và rong biển dưới đại dương cũng tạo ra sự quang hợp. Tảo xanh lá cây – tự mình bám chặt vào đá và các thành tường tại bến cảng – còn tảo xanh lục mọc ở những vùng biển thấp nơi chúng có thể nhận được đủ ánh nắng. Trong khi tảo đỏ có thể tự tạo ra sự quang hợp khi có một chút ánh sáng nhỏ xuất hiện ở những vùng nước sâu hơn thì tảo nâu thường sống ở những vùng nước có độ sâu trung bình.
Con người của thời kỳ hiện đại có chế độ ăn không cân bằng, thiếu các vitamin và khoáng chất, và sự thiếu cân bằng này tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh tật phát triển. Tuy nhiên, kombu, mozuku, và các loại rong biển khác lại cung cấp thêm các vitamin và khoáng chất cho cơ thể. Chính vì thế người ta cho rằng rong biển có lợi cho sức khoẻ. Tuy nhiên, tìm hiểu một cách đơn giản các đặc tính tốt tự nhiên của rong biển không tiết lộ cho thấy bí quyết sống lâu của người dân Okinawa. Chìa khoá của bí mật này nằm ở Fucoidan.
Fucoidan là gì?
Fucoidan hiện nay được chiết xuất từ tảo nâu như là hondawara, được phát hiện vào năm 1913 bởi Giáo sư Kylin của Đại học Uppsala ở Thụy Điển là nguồn chất nhờn từ kombu. Tên viết tắt ban đầu là " Fucoidin ", chất này sau đó được mọi người biết đến là " Fucoidan " dựa vào Nguyên tắt quốc tế về đặt tên cho các loại đường. Fucoidan là một nguồn chất nhờn cụ thể chỉ tìm thấy trong tảo nâu như Kombu, Wakame (Mekabu), Mozuku và loại chất xơ hòa tan trong nước. Về nghiên cứu khoa học, Fucoidan là một chuỗi phân tử cao polysaccharide có thành phần chính là sulfate fucose.Ngoài fucose, thành phần chính của Fucoidan cũng bao gồm galactose, manose, xylose và axit uronic. Tên gọi "Fucoidan" hiện tại không có cấu trúc nhất định, nhưng nó là một thuật ngữ chung đề cập đến chuỗi phân tử cao polysaccharides có thành phần chính là fucose.
Fucoidan mới được phát hiện gần đây và được giới y học chú ý đến. Khá nhiều người biết rằng nấm mỡ (agaricus blazei murill) là một loại nấm có chứa chất chữa ung thư. Tuy nhiên, Fucoidan vừa có thể nâng cao khả năng miễn dịch của cơ thể giống như nấm mỡ (agarius) vừa có thể tạo ra chất chống ung thư bằng cách tạo ra apoptosis (sự tự chết theo chu trình của tế bào). Fucoidan có trong tảo biển (tảo nâu) như mozuku (nemacystus decipiens), mekabu (phần nhăn gần rễ của tảo bẹ loại wakame hoặc undaria pinnatifida) và kombu (laminaria japonica). Thành phần “nhựa” của rong biển rất giàu Fucoidan – một thuật ngữ dùng để chỉ một nhóm polysaccarit (polysaccharides) có chứa nhiều đường fucoza sunfat.
Các nghiên cứu gần đây cho thấy polysaccarit, một loại sợi thức ăn có trong tảo nâu, mang lại nhiều lợi ích về sức khoẻ cho con người. Polysaccarit do các sacarit đơn như glucoza, xyloza và galactoza tạo thành. Chúng được coi là “các chất có hoạt tính sinh học”mà đang thu hút được nhiều sự chú ý. Nhiều người trong số các bạn đã nghe nói đến tác động chống ung thư của “β-glucan” có trong nấm mỡ và fomes yucatensis. Chất “β-glucan” này cũng là một polysaccarit.
Các loại tảo konbu, mozuku, và mekabu (phần giống như nếp gấp ở gần rễ của tảo bẹ loại wakame) đều có một đặc điểm chung đó là trơn và dính. Thành phần chính khiến tảo biển trơn chính là “fucoidan”- một loại polysaccarit khác do nhiều mắt xích liên quan đến một loại đường có tên gọi là “fucoza” tạo thành. Điểm khác biệt chính giữa fucoidan và các polysaccarit khác là fucoidan chứa nhiều các nhóm sunfat (SO42-). Từ thuật ngữ nhóm “sunfat” bạn có thể nghĩ đến
axit sunfuric (H2SO4), một chất lỏng có nồng độ axit mạnh làm tan chảy các kim loại như vàng, platinum, và cũng làm cháy da chúng ta. Tuy nhiên, nhóm sunfat là một chất hoàn toàn khác so với axit sunfuric. Nó là chất tạo ra nhựa của rong biển.