Tìm kiếm

Bệnh chàm: Là gì? Tại sao? Khi nào? Bằng cách

Bệnh chàm Là gì? 

Bệnh chàm thường được biết đến như “ngứa rồi phát ban” vì cơn  ngứa bắt đầu trước và tiếp theo đó là phát ban. Trong chu kỳ ngứa và gãi luẩn quẩn của bệnh chàm, ngứa gây ra nhu cầu gãi  để tạm thời ngăn chặn cảm giác khó chịu. Ngứa bắt nguồn một  phần do việc giải phóng các phân tử gây viêm, như là histamine,  kích thích các thụ thể thần kinh, sau đó gửi tín hiệu đến não (1).  Các vùng kiểm soát vận động và động lực của não phản ứng với  cảm giác ngứa bằng cách gãi để giảm ngứa. 

Thật không may, sự giảm ngứa trong thời gian ngắn này chỉ làm  tăng cảm giác ngứa và thúc đẩy hành động gãi (3). Gãi kéo dài dẫn đến hoạt động quá mức trong đường dẫn của não cũng như ở vùng vận động của não làm tồn tại lâu dài hành vi ngứa và gãi (2), gây kích ứng da, và làm vỡ cấu trúc da. Vùng da bị viêm, hở có hàng rào tự nhiên da bị tổn thương, cho phép sự xâm nhập  

của các chất kích ứng, chất gây dị ứng và nhiễm trùng, làm tình  trạng da bị viêm và ngứa nhiều hơn.

Tại sao? 

Các bậc cha mẹ có thể thường thấy  những mảng chàm ở bên trong  khuỷu tay và đầu gối của trẻ và đánh  dấu chúng như là một phần phải trải  qua của tuổi thơ. Tuy nhiên, một số trẻ có thể không dễ dàng khỏi bệnh  chàm sau khi phát triển, đặc biệt là  những trẻ bị đột biến gen filaggrin.  Một số có thể bị chàm kéo dài đến  tuổi trưởng thành (4). Filaggrin là  một loại protein rất quan trọng trong  việc duy trì hàng rào bảo vệ của da bình thường.(5) 

Khoảng 25% trẻ em bị ảnh hưởng  bởi bệnh chàm (6), và khoảng 60%  trường hợp mắc bệnh chàm bắt đầu  trong năm đầu đời ở độ tuổi 3-6  tháng, tỷ lệ mắc cao hơn ở những trẻ có điều kiện kinh tế xã hội cao hơn 

(6,7). 

Một nghiên cứu kéo dài cho thấy  rằng khoảng từ 38% đến 60% trẻ em  bị bệnh chàm được cải thiện vào thời  điểm dậy thì, nhiều người tiếp tục bị 

bệnh chàm khi trưởng thành (8)

Từ Điều tra Phỏng vấn Y tế Quốc  gia năm 2010, bệnh chàm phổ biến  ở khoảng 10% người lớn và khoảng  13% trẻ em từ 0 – 17 tuổi (9). 

Bệnh chàm ảnh hưởng đến nhiều  khía cạnh của cuộc sống hàng  ngày, càng làm nổi bật tầm quan  trọng của việc điều trị thích hợp.  Trong một nghiên cứu khảo sát,  khoảng 60% trẻ em mắc bệnh  chàm bị rối loạn giấc ngủ liên  quan đến bệnh của chúng (10).  Thiếu ngủ có thể góp phần gây ra  các vấn đề về hành vi, dẫn đến  giảm hiệu quả học tập và tăng  nguy cơ mắc chứng rối loạn tăng  động- giảm chú ý (11) 

Trẻ em mắc bệnh chàm bị giảm giấc ngủ được ghi nhận có thành  tích học tập kém hơn (12), giảm đáng kể về khả năng ngôn ngữ,  khả năng suy luận, và trí nhớ giảm nhẹ nhưng đáng kể. Những đứa trẻ này thậm chí có thể bị giảm chỉ số IQ khoảng 16 điểm so với những  đứa trẻ không bị chàm và mất ngủ (13).

Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ 

Trong nghiên cứu về sức khỏe  tâm thần, những người mắc bệnh  chàm có mức độ lo âu cao hơn so  với những người khỏe mạnh. Các  mối quan hệ với bạn học cũng như giáo viên có thể bị ảnh hưởng xấu  bởi bệnh chàm do lo sợ bị nhiễm  trùng, ngoại hình, hoặc sự hạn chế 

tham gia hoạt động thể thao (14)

Trong một nghiên cứu khảo sát ở trẻ em và người lớn mắc bệnh  chàm, 47% cho biết thường xuyên  hoặc luôn cảm thấy thất vọng về 

căn bệnh của mình, 39% cảm thấy  thường xuyên hoặc luôn xấu hổ vì  vẻ ngoài của mình, và 35% cảm  thấy thường xuyên hoặc luôn tức  giận về ngoại hình của mình (15). 

Những người chăm sóc trẻ bị chàm cũng bị ảnh hưởng nặng nề.  Họ có thể phải dành khoảng 1,5  đến 3 giờ mỗi ngày cho việc điều  trị bệnh chàm của con mình (16,17). Điều này có thể gây căng  thẳng cho gia đình có nhiều việc  cũng như sự ổn định về tài chính  vì thời gian cần thiết để chăm sóc  trẻ bị chàm có thể khiến cha mẹ nghỉ việc hoặc thậm chí không làm việc hoàn toàn (16). 

Ngoài gánh nặng về thời  gian, điều trị bệnh chàm có thể tạo  ra gánh nặng tài chính lớn vì chi  phí điều trị có thể dao động từ 100  đến hơn 2.000 đô la Mỹ cho mỗi  bệnh nhân mỗi năm (18,19). Bằng  chứng này cho thấy sự cần thiết  phải điều trị bệnh chàm sớm và  hiệu quả ở trẻ em , để hạn chế gánh nặng bệnh chàm cho cá  nhân, gia đình và cộng đồng  (19,20).

Bệnh chàm Khi nào? 

Nên bắt đầu điều trị bệnh chàm khi mới sinh cho trẻ sơ sinh có  nguy cơ cao. Trẻ sơ sinh có nguy cơ cao là trẻ có một trong hai  hoặc cả cha và mẹ có cơ địa dị ứng. Cơ địa dị ứng bao gồm một  số tình trạng: hen suyễn, chàm, và viêm mũi dị ứng (sốt cỏ khô)  (21). Trẻ em có cha mẹ có tiền sử bệnh chàm có nguy cơ cao nhất  bị bệnh chàm; do đó, can thiệp sớm bằng việc sử dụng kem  dưỡng ẩm là điều cần thiết ở nhóm này. Trẻ sơ sinh có nguy cơ mắc bệnh chàm (cha hoặc mẹ bị bệnh chàm) giảm 50% nguy cơ 

phát triển bệnh chàm khi thoa kem dưỡng ẩm hàng ngày khi trẻ được 3 tuần tuổi (22)

Có bằng chứng ủng hộ việc sử dụng các biện pháp can thiệp sớm  và chi phí phù hợp để ngăn ngừa sự khởi phát của bệnh chàm.  Sử dụng dưỡng ẩm sớm ngay từ khi mới sinh có thể làm giảm  đáng kể sự khởi phát của bệnh chàm. Một nghiên cứu cho thấy  giảm hơn 32% số trẻ sơ sinh bị chàm khi bôi dưỡng ẩm hàng  ngày từ sơ sinh đến 32 tuần tuổi (23). Sử dụng dưỡng ẩm sớm không chỉ là một biện pháp can thiệp có lợi mà còn tiết kiệm chi  phí. Bôi dưỡng ẩm hàng ngày trong 6 tháng đầu đời có thể làm  giảm gánh nặng tài chính chung của bệnh chàm sau này trong 

suốt cuộc đời (24).

Bệnh chàm Bằng cách nào? 

Corticosteroid tại chỗ 

Trẻ sơ sinh dễ bị viêm hơn do  hàng rào bảo vệ da của chúng  chưa phát triển đầy đủ khi mới  sinh (25). Phòng ngừa bệnh  chàm thường bao gồm dưỡng  ẩm hàng ngày và chăm sóc da  nhẹ nhàng phù hợp (26). Khi  bệnh chàm xuất hiện trên da,  phương pháp điều trị chính  thường là corticosteroid tại  chỗ để giảm tình trạng viêm da (27)

Tuy nhiên, hơn 80% bệnh  nhân hoặc người chăm sóc lo  ngại về việc bôi steroid tại chỗ và khoảng 1/3 bệnh nhân  chàm không sử dụng steroid  bôi do lo ngại về các tác dụng  phụ có thể xảy ra (28). 

Sử dụng Steroid an toàn để tránh các tác dụng phụ 

Steroid thường cần thiết để điều trị các vùng da đang bị chàm để giảm viêm, ngứa và  có thể nhiễm trùng. Tuy nhiên,  nhiều bậc cha mẹ vẫn lo ngại  về việc sử dụng steroid (27,29- 31). Các bậc cha mẹ thường lo  lắng về việc con mình trở nên  nghiện hoặc phụ thuộc vào  steroid (“steroid addiction”)  cũng như việc mất tác dụng  của steroid do sử dụng kéo dài (29,32)

The National Eczema  Association Task Force đã  công bố một đánh giá hệ thống  vào năm 2015 chỉ ra rằng  chúng ta hiện chưa hiểu rõ về nghiện và cai nghiện steroid  bôi tại chỗ, vì vậy vẫn cần  nghiên cứu thêm để hiểu rõ  hơn liệu việc cai hoặc nghiện  steroid bôi tại chỗ có xảy ra  không, mức độ phổ biến của  nó và những gì chúng ta có thể làm để phát hiện, ngăn ngừa và  điều trị nó (32).

Mối quan tâm 

Phần lớn mối quan tâm của cha  mẹ xoay quanh các tác dụng phụ của steroid: mỏng da, rạn da, thay  đổi màu da, tăng mạch máu nhỏ có thể nhìn thấy (giãn mạch) và  sự hấp thụ vào máu (30,33). May  mắn là những tác dụng phụ tương  đối không phổ biến nếu steroid tại chỗ được sử dụng chặt chẽ đúng  cách theo hướng dẫn của bác sĩ và  thường chỉ xảy ra khi sử dụng  steroid tại chỗ không đúng cách. 

Các vị trí nhạy cảm hơn trên cơ thể như mặt, cổ, nách và bẹn là  những vùng dễ bị mỏng da hơn,  do đó bác sĩ nên kê đơn thuốc bôi  steroid nhẹ hơn hoặc thuốc chống  viêm không steroid cho những vị 

trí này để tránh tác dụng phụ (34)

Ngay cả khi sử dụng lâu dài, được  định nghĩa là hơn 12 tuần, nghiên  cứu đã chỉ ra rằng steroid tại chỗ có tác dụng thấp đến trung bình là  an toàn và hiệu quả ở trẻ em bị bệnh chàm nếu được sử dụng  đúng cách (35)

Mục tiêu 

Mục tiêu của liệu pháp steroid là  làm giảm tình trạng viêm bằng các  đợt ngắn steroid tác dụng mạnh bôi  tại chỗ. Khi tình trạng viêm giảm  và các tổn thương chàm được cải  thiện, bác sĩ sẽ giảm tác dụng của  steroid bôi tại chỗ. Người chăm  sóc có thể học cách tăng hoặc giảm  thuốc bôi bằng cách thảo luận với  bác sĩ và cùng lên kế hoạch điều trị dành cho từng cá nhân bị chàm.  Một kế hoạch điều trị được cá nhân hoá cho bệnh nhân chàm có thể đơn giản hóa việc điều trị và giúp  người chăm sóc tin tưởng vào việc  kiểm soát bệnh chàm của con họ 

Các loại Steroid bôi tại  chỗ 

Không phải mọi loại steroid  bôi tại chỗ đều giống nhau, có  sự khác biệt quan trọng giữa  chúng. Một số được kê đơn  cho các bộ phận khác nhau của  cơ thể. Mức độ nghiêm trọng  của chàm và vị trí tổn thương cũng sẽ quyết định loại steroid  nào phù hợp nhất. 

Thuốc steroid tại chỗ tác dụng mạnh hơn được ưu tiên sử dụng trên những vùng da dày,  như da đầu, thân, bàn tay, bàn  chân, và những vùng bị chàm  nặng hơn. Steroid tại chỗ tác  dụng nhẹ hơn được sử dụng  trên các vùng da mỏng hơn  như cổ, mặt, nách và bẹn và  những vùng bị chàm ít nghiêm  trọng hơn. 

Ngoài ra còn có các dạng khác  nhau khi sử dụng: thuốc mỡ,  kem, lotion và gel. Các dạng được sử dùng tuỳ theo vị trí trên cơ thể, mức độ nghiêm  trọng của bệnh chàm và sở thích của bệnh nhân (37). 

Việc sử dụng đúng các loại  steroid tại chỗ nên được bác sĩ  hướng dẫn. Thông thường, bôi một lớp mỏng steroid lên vùng da bị bệnh 2 lần mỗi ngày  trong 2 – 4 tuần. Có thể tạm  ngưng việc bôi steroid một  khoảng thời gian ngắn sau mỗi  2 tuần, sau đó tiếp tục lại vào  cuối thời gian tạm ngưng nếu  cần thiết và nên được hướng  dẫn bởi bác sĩ (38).

Dưới đây là một số steroid bôi tại chỗ thường được kê đơn  và tác dụng của chúng: 

Steroid tác dụng nhẹ hoặc yếu: 

desonide 0,05% và hydrocortisone 0,1% – 2,5% (34) Thuốc được kê đơn cho các trường hợp chàm nhẹ hoặc các  vị trí nhạy cảm trên cơ thể (mặt, cổ, nách, bẹn). Cả desonide  và hydrocortisone acetate đều tương đối an toàn, vì chúng  là steroid bôi tác dụng yếu nhất (38). 

Steroid tác dụng trung bình: 

mometasone furoate 0,1%, betamethasone valerate  0,025-0,05%, fluocinolone acetonide 0,01% – 0,025%,  triamcinolone 0,025% – 0,1% (31,34) 

Thuốc được kê đơn cho các trường hợp chàm mức độ trung  bình đến nặng ở các vùng nhạy cảm (mặt, cổ, nách, bẹn).  Đối với chàm mức độ trung bình, các steroid này có thể được sử dụng tối đa 4 tuần, theo sau là 1 tuần không sử dụng (34). Đối với các vùng nhạy cảm bị chàm nặng, nên sử dụng  steroid có tác dụng trung bình trong 1-2 tuần (tối đa là 2  tuần) với khoảng thời gian nghỉ ở giữa (38). 

Steroid tác dụng mạnh: 

clobetasol 0,05%, betamethasone dipropionate 0,05% và  fluocinolone 0,05% (34) 

Thuốc được kê đơn cho bệnh chàm nặng và cho lòng bàn  tay và lòng bàn chân. Đây là loại steroid rất mạnh, chỉ được  kê đơn khi cần thiết và không được sử dụng trên các vùng  nhạy cảm của cơ thể trừ khi được bác sĩ đề nghị.

Bác sĩ nên kê toa loại steroid tại chỗ bằng cách xem xét vị trí của  tổn thương chàm và mức độ nghiêm trọng của chàm. Dựa trên  những yếu tố này, bác sĩ cũng sẽ chọn loại steroid có tác dụng thích hợp cùng với dạng sử dụng (thuốc mỡ, kem, lotion, dung  dịch, gel, bọt, v.v.). Thông thường, thuốc mỡ có tác dụng mạnh  hơn kem và kem bôi có tác dụng mạnh hơn lotion, dung dịch,  gel và bọt. 

Cuối cùng, steroid bôi tại chỗ được kê đơn sẽ được điều chỉnh  cho phù hợp với bệnh chàm của trẻ. Nếu được sử dụng theo đúng  chỉ định và đúng cách, trẻ sẽ không gặp bất kỳ tác dụng phụ nào,  cũng như sự phụ thuộc hoặc mất tác dụng của steroid, và sẽ thấy  bệnh chàm của trẻ được cải thiện.

Chất ức chế 

Một lựa chọn điều trị tại chỗ không steroid là chất ức chế calcineurin, ngăn chặn sự kích hoạt của các tế bào viêm  

gây ra viêm da và ngứa trong  bệnh chàm, chẳng hạn như tế bào T và tế bào mast (39,40) 

Hai loại chất ức chế calcineurin tại chỗ được chấp  thuận cho bệnh chàm: Protopic  ointment (tacrolimus) và  pimecrolimus cream. Vì không  gây mỏng da, các chất ức chế 

calcineurin thường được bác sĩ khuyên dùng cho những vùng  da mỏng hơn hoặc khi cần điều  trị liên tục trong thời gian dài (41,42). 

Các chất ức chế calcineurin tại  chỗ đã cho thấy sự cải thiện đối  với bệnh chàm ở trẻ dưới 2 tuổi  cũng như trẻ lớn hơn (6). Các  nghiên cứu đã so sánh trực tiếp  steroid bôi tại chỗ và chất ức  chế calcineurin trong bệnh  chàm ở trẻ em. Protopic  ointment nói chung được coi là  có hiệu quả tương đương với  một số steroid tại chỗ có tác  dụng nhẹ và thậm chí có thể có  lợi như một phương pháp điều  trị xen kẽ với steroid tại chỗ (43,44).

Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ 

Một lựa chọn điều trị khác cho  bệnh chàm là thuốc mỡ Crisaborole (45), hoạt động  bằng cách ức chế giải phóng  các phân tử gây viêm là  cytokine (46). Khi được nghiên  cứu trong khoảng thời gian 48  tuần, những bệnh nhân sử 

dụng thuốc mỡ Crisaborole có  tác dụng phụ của thuốc tương  đối thấp (47)

Hiện tại không có nghiên cứu  so sánh nào xem xét hiệu quả giữa chất ức chế PDE4 và  steroid bôi tại chỗ hoặc chất ức  chế calcineruin. Tuy nhiên, nó  có thể so sánh được về tác  dụng với steroid tại chỗ tác  dụng nhẹ và chất ức chế 

calcineurin. 

Điều trị toàn thân 

Có nhiều lựa chọn điều trị có  sẵn bên cạnh thuốc chống  viêm tại chỗ, bao gồm chất  kháng khuẩn, liệu pháp ánh  sáng và điều trị toàn thân. Khi  bệnh nặng và không thể kiểm  soát theo mong đợi bằng các  lựa chọn điều trị tại chỗ và bổ sung khác, có thể cần điều trị toàn thân. 

Tuy nhiên, hiện tại không có  thuốc điều trị toàn thân được  FDA chấp thuận cho bệnh  chàm ở trẻ em, tuy nhiên, các  bác sĩ thường sử dụng ngoài  chỉ định (off-label) thuốc toàn  thân để điều trị thành công  bệnh chàm nặng ở trẻ em.  Dupilumab là một loại thuốc  tiêm nhắm mục tiêu đã được  phê duyệt để điều trị bệnh  chàm vừa đến nặng ở người  lớn, và các thử nghiệm lâm  sàng đang được tiến hành để nghiên cứu tác dụng và độ an  toàn của nó ở trẻ em.

Làm thế nào để bắt đầu điều trị bệnh chàm cho  con bạn 

Có nhiều lựa chọn điều trị bệnh chàm khác nhau, mức độ nghiêm trọng và vị trí của bệnh chàm cũng rất khác nhau. Vì  những lý do này, điều quan trọng là phải trao đổi với bác sĩ để có kế hoạch điều trị phù hợp cho từng cá nhân. Cả cha mẹ và  bác sĩ cần tìm hiểu nhu cầu và mong đợi của nhau để có sự hợp  tác thành công. Các nhà nghiên cứu vẫn đang giải mã nguyên  nhân gây ra bệnh chàm và phát triển các lựa chọn mới cho trẻ em, nhưng chúng ta cũng đã biết rất nhiều điều. Ba điểm quan  trọng nhất là: 

  • Bệnh chàm tác động tiêu cực đến chất lượng cuộc sống của  người bệnh, gia đình và cộng đồng. 
  • Điều trị sớm bằng chất dưỡng ẩm là điều tối quan trọng,  đặc biệt là ở trẻ em có nguy cơ cao. 
  • Mỗi bệnh nhân là khác nhau; do đó, điều quan trọng là phải  hợp tác với bác sĩ để có kế hoạch kiểm soát phù hợp và cá  nhân hoá đối với bệnh chàm của con bạn. Chỉ cần tuân thủ hướng dẫn điều trị, tác dụng phụ của thuốc là không phổ biến.
  1. Handwerker HO. Microneurography of pruritus. Neurosci Lett.2010;470(3):193-196. 
  2. Mochizuki H, Papoiu ADP, Nattkemper LA, et al. Scratching Induces Overactivity in  Motor-Related Regions and Reward System in Chronic Itch Patients. J Invest  Dermatol.2015;135(11):2814-2823. 
  3. Mochizuki H, Kakigi R. Itch and brain. J Dermatol.2015;42(8):761-767. 
  4. Margolis DJ, Apter AJ, Gupta J, et al. The persistence of atopic dermatitis and laggrin  (FLG) mutations in a US longitudinal cohort. J Allergy Clin Immunol.2012;130(4):912- 917. 
  5. O’Regan GM, Sandilands A, McLean WH, et al. Filaggrin in atopic dermatitis. J Allergy  Clin Immunol.2009;124(3 Suppl 2):R2-6. 
  6. Eichen eld LF, Tom WL, Chamlin SL, et al. Guidelines of care for the management of  atopic dermatitis: section 1. Diagnosis and assessment of atopic dermatitis. J Am Acad  Dermatol.2014;70(2):338-351. 
  7. Ban L, Langan SM, Abuabara K, et al. Incidence and sociodemographic characteristics  of eczema diagnosis in children: a cohort study. J Allergy Clin Immunol.2018;10.1016/j.  jaci.2017.12.997 
  8. Rystedt I. Long term follow-up in atopic dermatitis. Acta Derm Venereol Suppl  (Stockh).1985;114:117-120. 
  9. Silverberg JI, Hani n JM. Adult eczema prevalence and associations with asthma and  other health and demographic factors: a US population-based study. J Allergy Clin  Immunol.2013;132(5):1132-1138. 
  10. Cam erman D, Kennedy JD, Gold M, et al. Eczema and sleep and its relationship to  daytime functioning in children. Sleep Med Rev.2010;14(6):359-369. 
  11. Weidinger S, Novak N. Atopic dermatitis. Lancet.2016;387(10023):1109-1122. 
  12. Kim SY, Kim MS, Park B, et al. Allergic rhinitis, atopic dermatitis, and asthma are  associated with di erences in school performance among Korean adolescents. PLoS One.  Vol 122017. 
  13. Cam erman D, Kennedy JD, Gold M, et al. Sleep and neurocognitive functioning in  children with eczema. Int J Psychophysiol.2013;89(2):265-272. 
  14. Lawson V, Lewis-jones M, Finlay A. The family impact of childhood atopic dermatitis:  the dermatitis family impact questionnaire. Pediatric Dermatology.1999;16(2):158.

 Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ 

  1. Anderson RT, Rajagopalan R. E ects of allergic dermatosis on health-related quality of  life. Current allergy and asthma reports.2001;1(4):309-315. 
  2. Lapidus CS, Kerr PE. Social impact of atopic dermatitis. Med Health R  I.2001;84(9):294-295. 
  3. Su JC, Kemp AS, Varigos GA, et al. Atopic eczema: its impact on the family and nancial  cost. Arch Dis Child.1997;76(2):159-162. 
  4. Kemp A. Cost of illness of atopic dermatitis in children: a societal perspective.  Pharmacoeconomics.2003;21(2):105-113. 
  5. Carroll CL, Balkrishnan R, Feldman SR, et al. The burden of atopic dermatitis: impact  on the patient, family, and society. Pediatr Dermatol.2005;22(3):192-199. 
  6. Linnet J, Jemec G. An assessment of anxiety and dermatology life quality in patients  with atopic dermatitis. British journal of Dermatology.1999;140(2):268-272. 
  7. Wadonda-Kabondo N, Sterne JA, Golding J, et al. Association of parental eczema,  hayfever, and asthma with atopic dermatitis in infancy: birth cohort study. Arch Dis  Child.2004;89(10):917-921. 
  8. Simpson EL, Chalmers JR, Hani n JM, et al. Emollient enhancement of the skin barrier  from birth o ers e ective atopic dermatitis prevention. Journal of Allergy and Clinical  Immunology.2014;134(4):818-823. 
  9. Horimukai K, Morita K, Narita M, et al. Application of moisturizer to neonates prevents  development of atopic dermatitis. J Allergy Clin Immunol.2014;134(4):824-830 e826. 
  10. Xu S, Immaneni S, Hazen GB, et al. Cost-e ectiveness of Prophylactic Moisturization  for Atopic Dermatitis. JAMA Pediatr.2017;171(2):e163909. 
  11. Stamatas G, Nikolovski J, Mack M, et al. Infant skin physiology and development during  the rst years of life: a review of recent ndings based on in vivo studies. International  Journal of Cosmetic Science.2011;33(1):17-24. 
  12. Eichen eld LF, Tom WL, Berger TG, et al. Guidelines of care for the management of  atopic dermatitis: section 2. Management and treatment of atopic dermatitis with topical  therapies. J Am Acad Dermatol.2014;71(1):116-132. 
  13. Mooney E, Rademaker M, Dailey R, et al. Adverse e ects of topical corticosteroids in  paediatric eczema: Australasian consensus statement. Australas J  Dermatol.2015;56(4):241-251. 
  14. Aubert Wastiaux H, Moret L, Le Rhun A, et al. Topical corticosteroid phobia in atopic  dermatitis: a study of its nature, origins and frequency. British journal of  dermatology.2011;165(4):808-814.
  15. Hon KL, Tsang YC, Pong NH, et al. Correlations among steroid fear, acceptability,  usage frequency, quality of life and disease severity in childhood eczema. J Dermatolog  Treat.2015;26(5):418-425. 
  16. Charman CR, Morris AD, Williams HC. Topical corticosteroid phobia in patients with  atopic eczema. Br J Dermatol.2000;142(5):931-936. 
  17. . Atopic Eczema in Children: Management of Atopic Eczema in Children from Birth up  to the Age of 12 Years. London2007. 
  18. Hajar T, Leshem YA, Hani n JM, et al. A systematic review of topical corticosteroid  withdrawal (“steroid addiction”) in patients with atopic dermatitis and other dermatoses.  J Am Acad Dermatol.2015;72(3):541-549 e542. 
  19. Smith SD, Hong E, Fearns S, et al. Corticosteroid phobia and other confounders in the  treatment of childhood atopic dermatitis explored using parent focus groups. Australas J  Dermatol.2010;51(3):168-174. 
  20. Ference JD, Last AR. Choosing topical corticosteroids. Am Fam  Physician.2009;79(2):135-140. 
  21. Siegfried EC, Jaworski JC, Kaiser JD, et al. Systematic review of published trials: long term safety of topical corticosteroids and topical calcineurin inhibitors in pediatric  patients with atopic dermatitis. BMC Pediatr.2016;16:75. 
  22. Gilliam AE, Madden N, Sendowski M, et al. Use of Eczema Action Plans (EAPs) to  improve parental understanding of treatment regimens in pediatric atopic dermatitis  (AD): A randomized controlled trial. J Am Acad Dermatol.2016;74(2):375-377 e371- 373. 
  23. Mehta AB, Nadkarni NJ, Patil SP, et al. Topical corticosteroids in dermatology. Indian  J Dermatol Venereol Leprol.2016;82(4):371-378. 
  24. Pariser D. Topical corticosteroids and topical calcineurin inhibitors in the treatment of  atopic dermatitis: focus on percutaneous absorption. Am J Ther.2009;16(3):264-273. 
  25. Hultsch T, Müller K, Meingassner J, et al. Ascomycin macrolactam derivative SDZ  ASM 981 inhibits the release of granule-associated mediators and of newly synthesized  cytokines in RBL 2H3 mast cells in an immunophilin-dependent manner. Archives of  dermatological research.1998;290(9):501-507. 
  26. Grassberger M, Baumruker T, Enz A, et al. A novel anti-in ammatory drug, SDZ ASM  981, for the treatment of skin diseases: in vitro pharmacology. British Journal of  Dermatology.1999;141(2):264-273. 
  27. QueilleRoussel C, Paul C, Duteil L, et al. The new topical ascomycin derivative SDZ  ASM 981 does not induce skin atrophy when applied to normal skin for 4 weeks: a 

 Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ 

randomized, double blind controlled study. British Journal of  Dermatology.2001;144(3):507-513. 

  1. Jensen J-M, Pfei er S, Witt M, et al. Di erent e ects of pimecrolimus and betamethasone  on the skin barrier in patients with atopic dermatitis. Journal of Allergy and Clinical  Immunology.2009;124(3):R19-R28. 
  2. Svensson A, Chambers C, Ganemo A, et al. A systematic review of tacrolimus ointment  compared with corticosteroids in the treatment of atopic dermatitis. Curr Med Res  Opin.2011;27(7):1395-1406. 
  3. Kubota Y, Yoneda K, Nakai K, et al. E ect of sequential applications of topical  tacrolimus and topical corticosteroids in the treatment of pediatric atopic dermatitis: an  open-label pilot study. J Am Acad Dermatol.2009;60(2):212-217. 
  4. Cheape AC, Murrell DF. 2% Crisaborole topical ointment for the treatment of mild-to moderate atopic dermatitis. Expert Rev Clin Immunol.2017;13(5):415-423. 
  5. Akama T, Baker SJ, Zhang YK, et al. Discovery and structure-activity study of a novel  benzoxaborole anti-in ammatory agent (AN2728) for the potential topical treatment of  psoriasis and atopic dermatitis. Bioorg Med Chem Lett.2009;19(8):2129-2132. 
  6. Eichen eld LF, Call RS, Forsha DW, et al. Long-term safety of crisaborole ointment 2%  in children and adults with mild to moderate atopic dermatitis. J Am Acad  Dermatol.2017;77(4):641-649 e645.

 Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ 

Megan O’Connor, Elizabeth Usedom, Vivian Shi, MD Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *