Tìm kiếm

Hải Thượng Lãn Ông “thắp sáng ngọn lửa” Y học cổ truyền Việt Nam

Hải Thượng Lãn Ông (chữ Hán: 海上懶翁) (1720 – 1791) là một  Đại Danh Y
Việt Nam. Ông không chỉ  tinh thông y học, mà còn giỏi văn chương, là
danh nhân Việt Nam thế kỉ XVIII được nhiều người kính trọng.

   

Hải
Thượng  Lãn Ông tên thật là Lê Hữu Trác sinh ngày 11 tháng 12 năm Giáp
Thìn 1720 tại thôn Văn Xá, làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng
Hồng, tỉnh Hải Dương (nay là xã Hoàng Hữu Nam, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng
Yên). Tuy nhiên, gần như cả cuộc đời ông (từ năm 26 tuổi đến lúc mất)
gắn bó với ở quê mẹ thôn Bầu Thượng, xã Tình Diệm, huyện Hương Sơn, phủ
Đức Quang, trấn Nghệ An (nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà
Tĩnh). Ông là người con thứ bảy của Cụ Ông Lê Hữu  Mữu và Cụ bà Bùi Thị
Thưởng, và còn được gọi là cậu Chiêu Bảy.
Dòng tộc ông
vốn có truyền thống khoa bảng; ông nội, bác, chú (Lê Hữu Kiều), anh và
em họ đều đỗ Tiến sĩ và làm quan to trong triều đình. Cụ hân sinh của
ông từng đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ, làm Thị lang Bộ Công triều Lê Dụ Tông,
được gia phong chức Ngự sử, tước Bá, tới khi mất được truy tặng hàm
Thượng thư (năm Kỷ Mùi 1739). Khi ấy, Lê Hữu Trác mới 20 tuổi, ông phải
rời kinh thành về quê nhà để trông nom gia đình, nhưng vẫn chăm chỉ đèn
sách, mong nối nghiệp gia đình, lấy đường khoa cử để tiến thân.

Tuy nhiên ông lại không theo nghiệp quan trường, mà theo đuổi chí hướng của mình: Nghề thuốc.
Khi
còn ở trong quân đội, ông đã bị bệnh, giải ngũ về phải gánh vác công
việc vất vả “trăm việc đổ dồn vào mình, sức ngày một yếu” (Lời tựa “Tâm
lĩnh”), lại sớm khuya đèn sách không chịu nghỉ ngơi, sau mắc cảm nặng,
chạy chữa tới hai năm mà không khỏi. May nhờ lương y Trần Độc, người
Nghệ An là bậc lão nho, học rộng biết nhiều nhưng thi không đỗ, trở về
học thuốc, nhiệt tình chữa khỏi.

Trong thời gian hơn
một năm chữa bệnh, mỗi khi rảnh rỗi ông thường đọc “Phùng thị cẩm nang”
và hiểu được chỗ sâu xa ẩn chứa trong sách thuốc. Ông Trần Độc thấy vậy
bèn đem hết những hiểu biết về y học truyền lại cho ông. Vốn là người
thông minh học rộng, nên ông nhanh chóng nắm được y thuật và hiểu sâu y
lý, tìm thấy sự say mê ở sách y học, nhận ra nghề y không chỉ lợi ích
cho mình mà có thể giúp người đời, nên ông quyết chí học thuốc.
Khi
về sống tại Hương Sơn, làm nhà cạnh rừng và đặt tên hiệu  là”Hải Thượng
Lãn ông”. Hải Thượng có nghĩa là hai chữ đầu của tỉnh Hải Dương và phủ
Thượng Hồng quê cha và cũng là xã Bầu Thượng quê mẹ. Còn hai chữ “Lãn
ông”  có nghĩa là “ông lười”, ngụ ý lười biếng, chán ghét công danh, tự
giải phóng mình khỏi sự ràng buộc của danh lợi, của quyền thế, tự do
nghiên cứu y học, thực hiện chí hướng mà mình yêu thích gắn bó.
Mùa
thu năm Bính Tý (1754), với mong muốn tăng thêm kiến thức ông ra kinh
đô mong tìm thầy vì ông thấy y lý mênh mông. Tuy nhiên ông đã không gặp
được thầy giỏi, ông đành mua một số phương thuốc gia truyền rồi trở về
Hương Sơn “từ khước sự giao du, đóng cửa để đọc sách” (Tựa “Tâm lĩnh”)
để vừa học tập và chữa bệnh. Mười năm sau tiếng tăm của ông đã nổi khắp
vùng Hoan Châu.

Sau
mấy chục năm tận tụy với nghề, Hải Thượng Lãn ông đã nghiên cứu rất sâu
lý luận Trung y qua các sách kinh điển như: Nội kinh, Nam kinh, Thương
hàn, Kim quỹ; tìm hiểu nền y học cổ truyền của dân tộc; kết hợp với thực
tế chữa bệnh của mình, ông hệ thống hóa tinh hoa của lý luận Đông y
cùng với những sáng tạo đặc biệt qua việc áp dụng lý luận cổ điển vào
điều kiện Việt Nam, đúc kết nền y học cổ truyền của dân tộc Việt Nam.
Trải qua hàng chục năm ông đã viết nên bộ “Y tôn tâm lĩnh” gồm 28 tập,
66 quyển bao gồm đủ các mặt về y học: Y đức, Y lý, Y thuật, Dược, Di
dưỡng. Bộ sách đã phản ảnh sự nghiệp văn học và tư tưởng của Hải Thượng
Lãn Ông.
Ngày 12 tháng giêng năm Cảnh Hưng
43 (1782), ông nhận được lệnh chúa triệu về kinh. Do ông đã 62 tuổi, sức
yếu lại không muốn công danh, nhưng do theo đuổi nghiệp y đã mấy chục
năm mà bộ “Tâm lĩnh” chưa in được, ông hy vọng lần đi ra kinh đô có thể
thực hiện việc in bộ sách. Vì vậy ông nhận chiếu chỉ của chúa Trịnh, từ
giã gia đình, học trò rời Hương Sơn lên Kinh.
Ra kinh
vào phủ chúa xem mạch và kê đơn cho thế tử Trịnh Cán, ông được Trịnh Sâm
khen “hiểu sâu y lý” ban thưởng cho ông 20 xuất lính hầu, và bổng lộc
ngang với chức quan kiểm soát bộ Hộ để giữ ông lại trong triều. Ông giả
ốm không vào chầu,rồi viện cớ tuổi già mắt hoa, tai điếc thường ốm yếu
để được trọ bên ngoài. Bọn ngự y ghen tỵ với Lãn ông đã không chịu chữa
theo đơn của ông, nên thế tử không khỏi, ông biết thế nhưng không nói ra
và ông cũng không thật nhiệt tình chữa để sớm thoát khỏi vòng cương tỏa
của quyền thần, danh lợi.
Thời gian ở kinh đô, đã
nhiều lần xin về thăm cố hương Hải Dương, nhưng mãi đến tháng 9 năm
1782, sau chúa Trịnh mới cho phép ông về. Không lâu sau, ông lại có lệnh
triệu về kinh vì Chúa Trịnh Sâm ốm nặng. Về kinh ông chữa cho Trịnh Sâm
khỏi và phải miễn cưỡng chữa tiếp cho Trịnh Cán. Trịnh Sâm lại trọng
thưởng cho ông.
Sau khi Chúa Trịnh Sâm chết vì bệnh
lâu ngày sức yếu, Trịnh Cán lên thay, nhưng Trịnh Cán cũng ốm dai dẳng
nên “khí lực khô kiệt” nên ông vẫn phải tiếp tục ở lại Kinh. Nhân có
người tiến cử một lương y mới, Lê Hữu Trác liền lấy cớ người nhà ốm nặng
để rời kinh về Hương Sơn. Ngày 2 tháng 11 (năm 1782) Lãn ông về đến
Hương Sơn.
Năm 1783 ông viết xong tập “Thượng kinh ký
sự” bằng chữ Hán miêu tả quang cảnh ở kinh đô, cuộc sống xa hoa trong
phủ chúa, quyền uy và thế lực của nhà chúa. Tập ký ấy là một tác phẩm
văn học vô cùng quý giá trong nền văn học Việt Nam. Mặc dầu tuổi đã già,
công việc lại nhiều: vừa chữa bệnh, vừa dạy học, nhưng ông vẫn tiếp tục
chỉnh lý, bổ sung và viết thêm (tập Vân khí bí điển, năm 1786) để hoàn
chỉnh bộ “Tâm lĩnh”. Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác không chỉ là danh y
có cống hiến to lớn cho nền y học cổ truyền Việt Nam, mà ông còn là một nhà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng lớn của Việt Nam.
Ông
qua đời vào ngày rằm tháng giêng năm Tân Hợi (1791) tại Bầu Thượng,
(nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh), thọ 71 tuổi. Mộ
ông nay còn nằm ở khe nước cạn chân núi Minh Từ thuộc xã Sơn Trung,
huyện Hương Sơn.
Lê Hữu Trác là đại danh y có đóng góp lớn cho nền y học dân tộc Việt Nam
và kế thừa xuất sắc sự nghiệp “Nam dược trị Nam nhân” của Tuệ Tĩnh
thiền sư. Ông đã để lại nhiều tác phẩm lớn như Hải Thượng y tông tâm
lĩnh gồm 22 tập, 66 quyển chắt lọc tinh hoa của y học cổ truyền Việt Nam
và được đánh là công trình y học xuất sắc nhất trong thời trung đại
Việt Nam và các cuốn Lĩnh Nam bản thảo, Thượng kinh ký sự không chỉ có
giá trị về y học mà còn có giá trị văn học, lịch sử, triết học.
LB.VN                                                                                                          Nguồn: Wikipedia

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *