Tìm kiếm

LỊCH SỬ Y HỌC CỒ TRUYỀN VIỆT NAM

Việt Nam ta đã có trên 4000 năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Trong nền Văn
Minh Văn Lang và Văn Minh Ðại Việt những y lý và y thuật dựa trên nền tảng của
sự kết hợp lý luận y học Phương Ðông (Ðông y) với các kinh nghiệm chữa bệnh của
cộng đồng gồm 54 dân tộc Việt Nam, cùng với kinh nghiệm sử dụng các nguồn dược
liệu, thảo dược phong phú của đất nước ta trong vùng nhiệt
đới tạo thành một nền y học truyền thống, hay còn gọi là Y học cổ truyền Việt Nam.
1- Thời Kỳ Dựng Nước (Thời Kỳ Hùng Vương – 2900 năm Trước Công Nguyên):  Ở thời kỳ này y học tuy mới chỉ ở mức độ truyền miệng nhưng đã biết dùng thức ăn trị bệnh như ăn trầu
cho ấm cơ thể, nhuộm răng để bảo vệ răng…
2- Thời Kỳ Đấu Tranh
Giành Độc Lập Lần Thứ I
(Năm 111 trước Công nguyên).
Do có sự giao lưu và tiếp thu
nền y học Trung Quốc, các vị thuốc đã được đưa sang Trung Quốc như Trầm hương, Tê
giác… và một số thầy thuốc Trung Quốc đã sang Việt Nam trị bệnh 
như : Đổng Phụng, Lâm
Thắng…
3- Thời kỳ Độc Lập
Giữa Các Triều Đại Ngô, Đình, Lê, Lý, Trần, Hồ
(năm 939-1406).
      +Thời Nhà Lý
(1010-1224)
Đã có  Tổ chức Ty Thái Y chuyên chăm
lo bảo vệ sức khỏe cho vua quan trong triều, có nhiều thầy thuốc chuyên nghiệp
lo việc chữa bệnh cho nhân dân, phát triển việc tổ chức trồng thuốc…
Thời kỳ này phương pháp trị bệnh
bằng tâm lý cũng đã phát triển như trường hợp Lương y Nguyễn Chí Thành dùng
tâm lý trị liệu trị cho
vua Lý Thần Tông khỏi bệnh.
     +Thời Nhà Trần
(1225-1399)
Ty Lương Y được đổi thành
Viện Thái Y từ năm 1362.
Đã bắt đầu có những sự quan tâm tới việc chữa trị cho nhân dân, đặc biệt phát thuốc
cho nhân dân ở các vùng có dịch bệnh.
Tổ chức trồng và thu
hái thuốc dùng cho quân đội và nhân dân.
Cũng chính trong thời kỳ này, các Danh Y của nền Y học cổ truyền Việt Nam cũng xuất hiện, như Nguyễn Bá Tĩnh (Tuệ Tĩnh) với tác phẩm Nam Dược Thần Hiệu, Hồng Nghĩa Giác Tư Y Thư , Chu Văn An
với tác phẩm Y Học Yếu Giản Tập Chú Di Biên
      +Thời Nhà Hồ
(1400-1406)
          Danh y thời
này là Nguyễn Đại Năng với tác phẩm Châm Cứu Tiệp Hiệu Diễn Ca .
4- Thời Kỳ Đấu Tranh
Giành Độc Lập Lần Thứ II
(1407-1427)
Nhà Minh xâm lược cướp
hết các sách vở, thuốc và đem các danh y Việt Nam về nước … do đó Y học ở thời kỳ này đã không
phát triển được.
5-Thời Kỳ Độc Lập
Dưới Các Triều Đại Hậu Lê, Tây sơn, Nguyễn
(1428-1876)
        +Thời Nhà
Hậu Lê
1428-1788)
Bộ Luật Hồng Đức có đặt
quy chế về nghề Y : trừng phạt thầy thuốc kém đạo đức, ban hành các quy chế pháp y khám án
mạng tử thi…
Cấm phá thai, phổ biến
phương pháp vệ sinh phòng dịch, luyện tập giữ gìn sức khỏe… Tác phẩm có Bảo
Sinh Diên Thọ Toát Yếu của Đào Công Chính.
Ở triều đình có Thái Y
Viện, ở các tỉnh có Tế Sinh Đường lo chữa bệnh cho nhân dân nhất là công tác
chống dịch.
Mở các khóa thi tuyển
lương y, tổ chức khoa giảng dạy ở Thái y viện, đặt các học chức ở phủ, huyện để
dạy nghề thuốc. Soạn các tác phẩm : Y Học Nhập Môn Diễn Ca, Nhân Thân Phú… Thời
gian này có nhiều danh y : Nguyễn Trực với tác phẩm Bảo Anh Lương Phương , Lê Hữu trác
với tác phẩm Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh 28 tập 66
quyễn, Hoàng Đôn Hòa với tác phẩm Hoạt Nhân Toát Yếu bàn về
tổ chức y tế quân đội.
       +Thời Tây Sơn
(1788-1802)
Tổ chức được Cục Nam
Dược nghiên cứu thuốc trị bệnh cho quân đội và nhân dân.
Tác phẩm : Liệu Dịch
Phương Pháp Toàn Tập + Hộ Nhi Phương Pháp của Nguyễn Gia Phan, La Khê Phương
Dược + Kim Ngọc Quyển của Nguyễn Quang Tuấn.
        +Thời Nhà
Nguyễn
(1802-1883)
Ở triều đình có Thái y
viện, ở các tỉnh có Ty Lương y, có mở trường dậy thuốc ở Huế (1850).
Tác phẩm: Nam Dược Tập
Nghiệm Quốc Âm của Nguyễn Quang Lương, Nam Thiên Đức Bảo Toàn của Lê Đức Huệ…
 
 
6-Thời Kỳ
Pháp Xâm Lược
(1884-1945)
Do thời kỳ này Tây Y du nhập vào Việt Nam, chế độ Pháp thuốc đã giải tán các tổ
chức y tế thời nhà Nguyễn, loại Y Học Cổ Ttruyền Việt Nam ra khỏi tổ chức y tế bảo hộ, đưa nền y tế
thực dân vào. thầy thuốc Y học cổ truyền Việt Nam chỉ còn hoạt động nhỏ lẻ trong dân gian.
7-Thời kỳ việt nam
dân chủ cộng hòa
(1945-1976)
Nhận thấy Y học cổ truyền Việt Nam có tính tích cực trong việc điều trị bệnh tật, nên đã cho phục hồi nền YHCT.
Chính phủ có chủ trương kết hợp Y Học Cổ Truyền Việt Nam
& Y Học Hiện Đại để phục vụ việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được tốt hơn.
Ngày 10-12 – 1957  Hội Đông Y Việt Nam đã được thành lập và kể từ sau năm 1975 đến nay đã nhiều lần đổi tên: Hội Y Học
Dân Tộc, Hội Y Học Cổ Truyền Dân Tộc, Hội Y Học Cổ Truyền, nay lấy lại tên cũ là
Hội Đông y Việt Nam. Năm 1995 do hợp tác quốc tế
Việt Nam thành viên của Hiệp Hội
Châm Cứu Thế Giới nên Hội Đông y tách ra thêm Hội Châm Cứu Việt Nam và phổ biến các phương
pháp trị bệnh không dùng thuốc.
Đến nay:
Đa số các phường xã đều
có các phòng, tổ chẩn trị Y Học Cổ Truyền Việt Nam.
Hệ thống hóa các Lương
Y vào các đoàn thể Hội Đông y, Hội Châm Cứu.
Thành lập các bộ môn
giảng dạy YHCT tại các truờng trung học và đại học.
Đã có 1 học viện YHCT 
và  2 Viện YHCT ở miền Nam và Bắc.
Dịch thuật, biên soạn
nhiều loại sách Kinh Điển, sách chuyên đề, chuyên sâu phục vụ công tác nghiên  
cứu, giảng dạy
Nền Y học cổ truyền Việt
Nam trải qua hàng nghìn năm lịch sử và nhiều thăm trầm và đã được văn bản hoá  từ năm 1010 (thời nhà Lý). Tới thế kỷ thứ 13, nhà bác học
Chu Văn An đã nêu đường lối chữa bệnh chứ không dùng mê tín dị đoan. Thế kỷ 14, đại
danh y Tuệ Tĩnh nghiên cứu cây, con thuốc Việt Nam để chữa bệnh (580 vị thuốc
trong 3873 đơn thuốc cho 10 loại chuyên khoa trị bệnh). Thế kỷ 18 đại danh y Lê Hữu Trác với tên hiệu là Hải Thượng Lãn Ông đã biên soạn tập sách thuốc “Y TÔNG
TÂM LỈNH” gồm 28 bộ có 66 tập sách  nói về y đức, vệ sinh phòng bệnh, y lý cơ bản,
dược lý, bệnh lý, các đơn thuốc có công hiệu, bệnh án, một số trường hợp bệnh

          
   Trong nền Văn Minh Ðại Việt đã có 155 vị danh y với 497 tập tuyển
sách y học cổ truyền dân tộc được viết bằng tiếng Hán và tiếng Nôm.

            Trong thế kỷ 20 các vị danh y Việt Nam cũng đã biên soạn trên 200
tập sách có giá trị về Đông y bằng tiếng Quốc ngữ.

            Nền y học dân gian của 54 dân tộc trong cộng đồng Việt Nam gắn liền
với sự sinh sống từng vùng địa dư sinh thái và xã hội. Từng dân tộc trong quá
trình tồn sinh và phát triển đều tích luỹ được những kinh nghiệm về sử dụng cây
con thuốc có ở từng địa phương. 

            Y học cổ truyền Việt Nam với hệ thống lý luận chặt chẽ, với
các phương pháp phòng và chữa bệnh có hiệu quả, đã phục vụ đắc lực cho việc giữ
gìn và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân từ xưa tới nay. 

         

Trong nhiều năm qua Ðảng và Nhà nước đã có
nhiều Nghị quyết, Chỉ thị chỉ đạo ngành y tế phối hợp với các ngành, các tổ chức xã
hội nghiên cứu kế thừa, bảo tồn và phát triển YDHCT, kết hợp YDHCT với YDHHÐ
nhằm xây dựng nền Y Dược học Việt Nam hiện đại, khoa học, dân tộc và đại chúng.
Chủ tịch Hồ Chí
Minh vị lãnh tụ vĩ đại của chúng ta dù bận trăm công nghìn việc nhưng Người vẫn
quan tâm chỉ đạo việc “kết hợp thuốc đông y với tây y”. Nhà nước đã cho thành
lập Hội Ðông y, Viện Ðông y, Viện Châm cứu. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cũng
đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị chỉ đạo cụ thể từng lĩnh vực từ thừa kế,
nghiên cứu, phát triển dược liệu, đào tạo cán bộ YDHCT, khám chữa bệnh …
 Hơn năm mươi
năm qua, kiên trì thực hiện đường lối của Ðảng, ngành y tế đã đạt được một số
thành tựu quan trọng:
– Ðã đưa YDHCT
có vị trí trong việc chăm sóc sức khoẻ nhân dân; có hệ thống tổ chức từ trung
ương đến các địa phương. Cả nước có 5 Viện nghiên cứu; 46 bệnh viện YHCT cấp
tỉnh; có khoa hoặc tổ YHCT ở 80% viện, bệnh viện YHHÐ cấp quận, huyện; 30% trạm
y tế xã có hoạt động khám chữa bệnh bằng YHCT; có trên 10.000 cơ sở YDHCT tư
nhân.
– Ðã đào tạo
được đội ngũ thầy thuốc YHCT và kết hợp YDHCT với YDHHÐ gồm 35 tiến sĩ; 100 thạc
sĩ; 100 bác sĩ chuyên khoa cấp 2; 500 bác sĩ chuyên khoa cấp 1; 2000 bác sĩ y
học cổ truyền; 5000 cán bộ trung học YDHCT.
– Tổ chức kế
thừa được nhiều bài thuốc hay, cây thuốc quý của các lương y trên mọi miền đất
nước. Nhiều địa phương như Lạng Sơn, Thanh Hoá, Sóc Trăng, Thái Nguyên,… đã
sưu tầm và lưu lại hàng ngàn cây thuốc, bài thuốc kinh nghiệm của đồng bào các
dân tộc ít người; tổ chức nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu kết hợp, từng bước
phát huy được tiềm năng của YDHCT phục vụ cho sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức
khoẻ nhân dân.
– Dược liệu nói
chung và thuốc YHCT nói riêng đã có trong danh mục thuốc thiết yếu. Ðã điều tra
khảo sát có 3850 loài thực vật được sử dụng làm thuốc thuộc 309 họ, trong đó
đại đa số là cây mọc tư nhiên. Về động vật, có 406 loài thuộc 22 lớp, 6
ngành được sử dụng làm thuốc. Về khoáng vật, thống kê được 70 loại khoáng vật có
ở Việt Nam được sử dụng làm thuốc.
Các cơ sở sản
xuất thuốc YHCT ngày càng được nâng lên cả về chất lượng và số lượng. Hiện nay,
cả nước có trên 450 cơ sở, xí nghiệp sản xuất, kinh doanh thuốc YHCT (Nhà nước,
dân lập, tư nhân, cổ phần). Bộ Y tế đã cấp số đăng ký cho trên 2000 chế phẩm
thuốc YHCT được sản xuất lưu hành trên thị trường. Thuốc YHCT đã đa dạng về
chủng loại với giá cả phù hợp đáp ứng nhu cầu phòng và chữa bệnh của nhân dân.
Thuốc YHCT Việt Nam đã được xuất khẩu sang nhiều nước như Cộng hoà Liên bang
Nga, Cộng hoà Ucraina, Cu Ba, Lào, Thái Lan, Campuchia,…
– Hàng năm tuy
số cơ sở YDHCT còn ít, nhưng số lượng bệnh nhân đến khám và điều trị ngày một
nhiều. Có khoảng 30% số bệnh nhân trong cả nước được khám và điều trị bằng YHCT,
nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng còn nhiều khó khăn. YHCT đã góp phần thực hiện
chính sách xã hội và công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.
– Công tác xã
hội hoá về YDHCT cũng được đẩy mạnh. Ngành y tế đã phối hợp với Hội Ðông y tổ
chức tuyên truyền và vận động nhân dân trồng, sử dụng những cây thuốc sẵn có ở
địa phương, những bài thuốc đơn giản để tự phòng và chữa một số bệnh thông
thường, không những đã góp phần tích cực thực hiện chiến lược chăm sóc và bảo vệ
sức khoẻ nhân dân mà còn góp phần thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo và
cải thiện môi trường.
– Hợp tác quốc
tế ngày càng mở rộng, uy tín của các phương pháp chữa bệnh của Y Học Cổ Truyền Việt Nam
ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Hiện tại, Việt Nam có quan hệ hợp
tác về YDHCT với hơn 40 nước.
          Nhìn
lại chặng đường phát triển của nền Y học cổ truyền Việt Nam nói chung và nền YDHCT nói
riêng từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhất là sau hơn mười lăm năm đổi mới,
có thể khẳng định rằng sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân đã đạt
được những thành tựu to lớn.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *